GIÁO TRÌNH MÔN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG pps – Tài liệu text

GIÁO TRÌNH MÔN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG pps

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (8.52 MB, 87 trang )

TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ THỪA THIÊN HUẾ
BÀI GIẢNG
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
ĐỐI TƯỢNG: ĐIỀU DƯỠNG CAO ĐẲNG
Năm học 2011
1
MỤC LỤC
Bài 1: Quá trình tàn tật và biện pháp phòng ngừa. Các thương tật thứ phát thường
gặp và cách phòng ngừa 3
Bài 2: Khái niệm về phục hồi chức năng và vai trò của người điều dưỡng
trong phục hồi chức năng 9
Bài 3: Một số phương pháp vật lý trị liêu-phục hồi chức năng 14
Bài 4: Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng 21
Bài 5: Một số kỹ thuật phục hồi chức năng hô hấp 26
Bài 6: Một số kỹ thuật phục hồi chức năng cho người có khó khăn về vận
động 33
Bài 7: Phục hồi chức năng tổn thương tủy sống 37
Bài 8: Phục hồi chức năng liệt nửa người 44
Bài 9: Chăm sóc, điều dưỡng, phục hồi chức năng bỏng 50
Bài 10: Phục hồi chức năng sau gãy xương 59
Bài 11: Chăm sóc, điều dưỡng, phục hồi bệnh nhân cắt cụt 53
Bài 12: Phục hồi chức năng cho người bệnh trước và sau mổ 62
Bài 13: Phục hồi chức năng trẻ bại não 65
Bài 14: Phục hồi chức năng cho người có khó khăn về học, chậm phát triển tinh
thần 72
Bài 15: Phục hồi chức năng cho người có khó khăn về nghe nói 76
Bài 16: Phục hồi chức năng cho người có khó khăn về nghe nhìn 78
Bài 17: Phục hồi chức năng cho người mất cảm giác 81
Bài 18: Phục hồi chức năng cho bệnh nhân động kinh 85
Bài 19: Phục hồi chức năng cho người bị tâm thần 83
2

BÀI 1: QUÁ TRÌNH TÀN TẬT VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA.
CÁC THƯƠNG TẬT THỨ PHÁT THƯỜNG GẶP
VÀ CÁCH PHÒNG NGỪA
Mục tiêu học tập
Sau khi học xong bài này, học viên có khả năng:
1.Trình bày được nguyên nhân tàn tật và phân loại tàn tật
2.Trình bày được định nhĩa về khiếm khuyết, giảm khả năng, tàn tật và cho ví dụ.
3. Nêu được các biện pháp phòng ngừa tàn tật.
4. Nêu được các thương tật thứ phát thường gặp cách phòng ngừa.
1. Tình hình tàn tật trên thế giới và ở Việt Nam
1. 1. Tình hình tàn tật trên thế giới và ở Việt Nam
Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, số người tàn tật chiếm khoảng 7-10% dấn
số nhân loại (khoảng 600 triệu người).
Ở Việt nam, theo số liệu của Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội có gần 5 triệu
người khuyết tật, chiếm khoảng 5- 7% dân số. Trong số đó có gần 1,5 triệu người là tàn
tật nặng, cần được Nhà nước và xã hội giúp đỡ.
Các chuyên gia của Tổ chức Y tế Thế giới nhận định rằng, số lượng người tàn tật
không dừng lại ở con số trên mà còn gia tăng nhanh chóng theo tỷ lệ với sự gia tăng dân
số theo cấp số nhân.
1.2. Chính sách của Nhà nước CHXHCN Việt Nam đối với người tàn tật
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người của Đại hội đồng Liên hợp quốc mà Việt
Nam là một thành viên đã thừa nhận “Phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng bất di bất
dịch của các thành viên trong gia đình loài người là nền tảng của tự do, công lý và hòa
bình trên thế giới”. Người khuyết tật cũng là một thành viên trong gia đình ấy.
Nhà nước Việt Nam từ lâu đã khẳng định Người tàn tật là đối tượng được quan
tâm trong hệ thống chính sách xã hội. Quan điểm nhất quán đó đã được thể hiện trong các
điều khoản quy định việc trợ giúp, đảm bảo quyền lợi bình đẳng cho Người tàn tật của
Hiến pháp Việt Nam năm 1959, 1980 và 1992, Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 và
Luật người khuyết tật đã được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010 và có hiệu
lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011.

Luật người khuyết tật khẳng định: Bảo vệ, chăm sóc và tạo điều kiện cho người tàn
tật hòa nhập cộng cộng là hoạt động có ý nghĩa kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu
sắc, là truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
2. Quá trình tàn tật
Tàn tật là hậu quả của quá trình bệnh lý, khiếm khuyết và giảm khả năng gây ra.
2.1. Quá trình gây bệnh
Khi một tác nhân (vật lý, hóa học, sinh học, di truyền) tác động vào con người làm
thay đổi sinh lý, sinh hóa của cơ thể gọi là quá trình bệnh lý. Quá trình này có thể được
điều chỉnh và dừng lại không gây nên bệnh (cơ thể đủ sức đề kháng và điều chỉnh tốt)
hoặc có thể diễn biến nặng gây nên bệnh.
3
Bệnh là do quá trình bệnh lý tác động vào tế bào, cơ quan, hệ thống, cơ thể, ảnh
hưởng đến chức năng cụ thể của cơ quan, hệ thống cơ thể của người bệnh, có khi ảnh
hưởng nghiêm trọng đến khả năng tồn tại của người bệnh.
Yếu tố gây bệnh
Khỏi hoàn toàn, không để lại di chứng
Bệnh Tử vong
Khỏi nhưng để lại di chứng
2.2. Quá trình tàn tật
Di chứng của bệnh có thể là khiếm khuyết, giảm khả năng và tàn tật. Tổ chức Y tế
Thế giới đã đưa ra các định nghĩa về chúng như sau:
2.2.1. Khiếm khuyết: là sự mất mát, thiếu hụt hoặc bất thường về cấu trúc giải phẫu, tâm
lý, sinh lý hoặc chức năng do bệnh hoặc các nguyên nhân khác gây nên.
Phần lớn các bệnh thường để lại một vài khiếm khuyết vĩnh viễn hoặc thoáng qua.
Ví dụ: Người nông dân 25 tuổi bị cụt 1 chân do tai nạn giao thông.
Cụt chân  Bất thường về giải phẫu.
2.2.2. Giảm khả năng: là bất kỳ sự hạn chế hay mất khả năng thực hiện một hoạt động
gây nên bởi khiếm khuyết.
Ví dụ: Do cụt chân nên người thanh niên nói trên đi lại, chạy nhãy khó khăn, không
như người bình thường  giảm khả năng đi lại, chạy nhãy.

2.2.3. Tàn tật: là tình trạng người bệnh do bị khiếm khuyết, giảm khả năng nên không
thực hiện được vai trò của mình trong xã hội mà người cùng tuổi, cùng giới, cùng hoàn
cảnh và cùng công việc lại thực hiện được.
Ví dụ: Người nông dân 25 tuổi bị cụt 1 chân do tai nạn giao thông nói trên: Cụt chân
(khiếm khuyết)  Khó khăn khi đi lại, chạy nhãy (giảm khả năng)  không làm ruộng
được, không tự nuôi sống bản thân, sống dựa vào gia đình, không thực hiện được vai trò
của người này trong gia đình và cộng đồng (tàn tật).
Như vậy, khiếm khuyết là mức độ khuyết tật nhẹ nhất gây tổn thương ở mức độ cơ
quan hoặc mô; giảm khả năng là mức độ khuyết tật nặng hơn, ảnh hưởng đến toàn bộ cơ
thể của người bệnh; tàn tật là mức độ khuyết tật nặng nhất, gây cản trở cho người bệnh ở
mức độ xã hội. Do đó người khuyết tật rất khó khăn trong việc hội nhập xã hội và tự kiếm
sống nên họ sống lệ thuộc một phần hoặc hoàn toàn vào người khác.
ĐN CỦA TCYTTG MỨC ĐỘ

Tàn tật Xã hội

Giảm khả năng Toàn bộ cơ thể

Khiếm khuyết Cơ quan hoặc mô
4
2.3. Nguyên nhân của tàn tật:
Có 4 nhóm nguyên nhân chủ yếu gây ra tàn tật:
– Những nguyên nhân trực tiếp do bệnh, tuổi cao, tai nạn, dị tật bẩm sinh
– Thái độ sai lệch của xã hội đối với người khuyết tật: người khuyết tật thường bị xã hội
coi thường, xa lánh, không chấp nhận như là một thành viên bình đẳng trong cộng đồng.
– Điều kiện sống và môi trường xung quanh (môi trường làm việc, học hành, đi lại )
không phù hợp với tình trạng thương tật của người khuyết tật nên họ không có điều kiện
và cơ hội hội nhập xã hội.
– Do các dịch vụ phục hồi chức năng kém phát triển.
Ba nguyên nhân sau dù không phải là nguyên nhân trực tiếp gây nên thương tật,

nhưng lại là những nguyên nhân chính cản trở người khuyết tật hòa nhập xã hội và tìm
kiếm công ăn việc làm.
2.4. Hậu quả của tàn tật
Tình trạng người tàn tật gây nên những hậu quả rất nặng nề cho bản thân người tàn
tật, cho gia đình và xã hội.
2.4.1. Đối với bản thân người tàn tật:
– Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong ở trẻ tàn tật cao hơn rất nhiều so với trẻ bình thường.
– 90% trẻ tàn tật chết trước tuổi 20.
– Người tàn tật thường bị thất học, không có việc làm, sống dựa vào người khác.
– Người tàn tật mất khả năng độc lập, bị phục thuộc vào người khác.
– Người tàn tật không có vị trí trong gia đình và cộng đồng, bị gia đình coi thường, xã hội
dèm pha, xa lánh, đối xử bất bình đẳng.
2.3.2. Đối với gia đình:
– Người tàn tật là gánh nặng cho gia đình về tâm lý, kinh tế, thời gian và công sức.
– Gia đình người tàn tật thường bị cộng đồng dèm pha, xa lánh vì họ cho rằng đó là sự
trừng phạt của Chúa, Trời hay Phật.
2.3.3. Đối với xã hội: người tàn tật thường là gánh nặng của cộng đồng.
2.5. Phân loại tàn tật
Để nhận biết, dễ phát hiện, dễ phân loại về tàn tật và tránh thái độ phân biệt, coi
thường người tàn tật, đồng thời tạo cho người tàn tật dễ chấp nhận tình trạng thương tật
của mình, Tổ chức Y Tế Thế giới đã phân tàn tật thành 7 nhóm như sau:
– Khó khăn về vận động
– Khó khăn về nhìn
– Khó khăn về nghe nói
– Khó khăn về học
– Hành vi xa lạ (tâm thần)
– Mất cảm giác (bệnh phong)
– Động kinh.
3. Các biện pháp phòng ngừa tàn tật
Phòng ngừa tàn tật là nhiệm vụ quan trọng của mọi thành viên trong cộng đồng,

đặc biệt là cán bộ y tế. Nói chung hầu hết các loại tàn tật đều có thể phòng ngừa hoặc
giảm nhẹ được bằng các biện pháp khác nhau với sự tham gia của cả cộng đồng.
5
Diễn biến từ bệnh và các nguyên nhân gây bệnh

Bệnh
Phòng ngừa bước I

Khiếm khuyết
Phòng ngừa bước II

Giảm khả năng
Phòng ngừa bước III

Tàn tật

3.1. Phòng ngừa bước I
Bao gồm các biện pháp ngăn ngừa không để xẩy ra khiếm khuyết:
– Phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng.
– Chăm sóc, dinh dưỡng tốt trong quá trình điều trị, kết hợp tập luyện phục hồi nhằm
phòng tránh các thương tật thứ phát.
– Phòng ngừa tai nạn (sinh hoạt, giao thông, lao động), chống bạo lực, chiến tranh.
– Tư vấn sức khỏe sinh sản, chăm sóc, theo dõi mẹ và thai nhi trong suốt quá trình mang
thai.
3.2. Phòng ngừa bước II
Bao gồm các biện pháp để ngăn ngừa tình trạng khiếm khuyết không cho trở thành
giảm khả năng:
– Phát hiện sớm khiếm khuyết, can thiệp y học, PHCN để giảm hoặc khắc phục khiếm
khuyết.
– Cung cấp chân tay giả, dụng cụ chỉnh hình, dụng cụ trợ giúp cho người khiếm khuyết.

– Cải tạo môi trường sống và làm việc cho phù hợp khuyết tật.
3.3. Phòng ngừa bước III
Bao gồm các biện pháp để ngăn ngừa giảm khả năng trở thành tàn tật và gây nên
hậu quả của tàn tật. Đó là:
– Giáo dục hòa nhập, tạo điều kiện cho trẻ được học hành, vui chơi như trẻ cùng trang lứa
(với trẻ bị khiếm khuyết nhẹ).
– Giáo dục chuyên biệt cho trẻ bị khiếm khuyết nặng (bị mù, bị điếc câm).
– Dạy nghề, tạo công ăn việc làm, vui chơi, giải trí, tham gia hoạt động cộng đồng cho
người lớn khuyết tật.
– Cung cấp dịch vụ chăm sóc tại nhà hoặc trung tâm điều dưỡng cho các đối tượng khiếm
khuyết nặng.
– Cải tạo môi trường sống và làm việc cho phù hợp khuyết tật.
– Thay đổi thái độ của gia đình, xã hội đối với người khuyết tật
– Có chế độ, chính sách hỗ trợ hợp lý cho người khuyết tật.
6
II. CÁC THƯƠNG TẬT THỨ PHÁT THƯỜNG GẶP VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA
Những thương tật xảy ra do hậu quả trực tiếp của bệnh, chấn thương hay rối loạn
bẩm sinh gọi là bệnh hay thương tật đầu tiên. Những tổn thương xảy ra do bất động gọi là
thương tật thứ phát.
1. Nguyên nhân
– Cưỡng bức nghỉ ngơi trên giường trong một thời gian dài do bệnh hay dưỡng bệnh.
– Bất động do yêu cầu điều trị (máng, nẹp, bột ).
– Rối loạn tâm thần đưa tới bất động.
– Liệt.
– Cứng khớp.
– Đau.
– Mất cảm giác.
2. Hậu quả
2.1. Biến chứng đối với hệ tim mạch:
– Hạ huyết áp tư thế đứng: là do tình trạng giãn các mạch máu ở bụng và hai chi dưới

khiến phần lớn thể tích máu tụ ở các vùng thấp khi bệnh nhân đứng. Bình thường, các
mạch máu có khả năng co phản xạ, nhưng khả năng này đã bị mất do bất động lâu ngày.
Tình trạng này có thể làm người bệnh ngất xỉu vì thiếu máu não, có thể gây tổn thương
não và chết đột ngột.
– Giảm hoạt động của tim.
– Viêm tắc mạch máu: thiếu vận động hai chi dưới có thể dẫn tới huyết khối tĩnh mạch.
Tình trạng này có thể gây tắc mạch phổi và tử vong.
2.2. Biến chứng đối với hệ hô hấp:
– Giảm thông khí: giảm thể tích sống, thể tích khí/phút, dung tích thở tối đa do tư thế nằm
lâu.
– Thở không sâu, thở nông.
– Giảm thông khí cơ học phần phổi do xung huyết thứ phát và viêm phổí ứ đọng.
– Giảm khả năng ho và hoạt động của lông nhu.
– Nhiễm trùng hô hấp tăng.
– Tần số tắc động mạch phổi tăng sau một thời gian nằm lâu.
Sự thanh thải dịch từ cây phế quản giảm gây khả năng xẹp phổi hoặc viêm phổi ứ đọng.
2.3. Biến chứng hệ cơ xương: yếu cơ, teo cơ, co rút, loãng xương do ít hoạt động.
– Yếu cơ, teo cơ
Khi cơ không hoạt động do bất động trong một thời gian nào đó, cơ sẽ bị yếu, mất
tính dẽo dai và teo nhỏ. Sự suy yếu này sẽ làm cho người bệnh không hoạt động và cơ sẽ
yếu và teo nhỏ thêm. Diễn tiến này tạo thành một vòng luẩn quẩn và càng đa người bệnh
đến suy thoái về thể chất và tinh thần.
– Co rút khớp
Là tình trạng giới hạn tầm hoạt động của khớp do sự co rút của các mô mềm quanh
khớp. Do bất động, khớp không cử động nên không có sự kéo dãn các mô collagen của
bao khớp và/ hoặc cơ nên dẫn đến hậu quả này.
– Loãng xương
Do bất động nên sức kéo của cơ lên xương bị hạn chế và do không chịu trọng lực
dẫn đến việc xương mất calxi. Tình trạng loãng xương dẫn đến hậu quả như đau, dễ gãy
xương, tạo sởi đường tiết niệu.

7
2.4. Biến chứng hệ thần kinh:
– Nằm lâu gây giảm cảm giác
– Nằm lâu làm cho tinh thần lú lẫn, thiếu định hướng, giảm chức năng trí tuệ.
– Nằm lâu tạo nên mất tính tích cực vận động, mất tính ổn định, tâm lý lo âu, buồn chán.
2.5. Biến chứng hệ tiêu hóa:
– Mất ngon miệng.
– Giảm hấp thu chất dinh dưỡng.
– Giảm nhu động ruột, táo bón.
2.6. Biến chứng hệ tiết niệu: Sỏi thận, tiểu dầm, nhiễm trùng đường tiểu.
– Sỏi thận: Do tăng bài tiết calxi do xương bị mất chất khoáng.
– Nhiễm trùng: Do ứ đọng nước tiểu, vì ít thay đổi tư thế hoặc do nhiễm trùng đường tiểu.
– Tiểu dầm.
2.7. Biến chứng da: loét do đè ép
Do nằm đè ép quá mức và kéo dài dẫn tới hậu quả hoại tử da và tổ chức dưới da do thiếu
máu tại chỗ. Các ổ lóet này thường gặp ở những nơi xương nhô chỉ có một lớp da mỏng
bao bọc.
Những vị trí thường bị ép do đè ép là: Vùng xương cùng, vùng mấu chuyển lớn,
vùng ụ ngồi, vùng xương gót chân, vùng mắt cá ngoài.
3. Cách phòng ngừa
Các thương tật thứ phát do bất động có thể ngăn ngừa rất hữu hiệu với các phương
pháp sau :
– Cung cấp đủ chất dinh dưỡng giàu chất đạm, vitamine.
– Chăm sóc, vệ sinh da tốt, thường xuyên thay đổi tư thế người bệnh.
– Tập chủ động các cử động, các bài tập.
– Tập thụ động để duy trì tầm hoạt động của khớp (nếu người bệnh không tự tập được).
Tóm lại, phòng các thương tật thứ phát có thể phòng ngừa được và dễ dàng hơn là
phải đương đầu với chúng khi chúng đã xẩy ra.
8
BÀI 2: KHÁI NIỆM VỀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG, VAI TRÒ CỦA

NGƯỜI ĐIỀU DƯỠNG TRONG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
Mục tiêu học tập
Sau khi học xong bài này, học viên có khả năng:
1. Trình bày được định nghĩa, mục đích, nguyên tắc của phục hồi chức năng và các
phương pháp phục hồi chức năng.
2. Nêu được vai trò, đặc điểm và nhiệm vụ của điều dưỡng viên trong phục hồi chức
năng cho người bệnh.
1. Phục hồi chức năng
1.1. Vai trò của phục hồi chức năng (PHCN) trong hệ thống chăm sóc sức khỏe
Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ
không chỉ bó hẹp là tình trạng thiếu vắng bệnh tật.
Trước đây, ngành y tế chỉ mới chú trọng vào 2 lĩnh vực phòng bệnh và chữa bệnh
mà chưa quan tâm đúng mức đến lĩnh vực PHCN. Nhiều thầy thuốc chỉ quan tâm đến
việc cứu sống người bệnh, còn việc sau này họ sẽ sống ra sao thì không hề để ý tới.
Trong những năm gần đây, người ta thường nói đến một ngành mới đang phát triển
khá mạnh mẽ- đó là ngành PHCN hay còn gọi là bước thứ 3 của y học. Bước thứ 3 không
có nghĩa là đi sau 2 bước kia, mà về phạm trù y học hiện đại, cả 3 bước cơ bản là phòng
bệnh, chữa bệnh và PHCN phải được lồng ghép chặt chẽ, song song với nhau.
Phục hồi chức năng là một ngành được xây dựng trên cơ sở y học hiện đại. Trải
qua nhiều năm nghiên cứu, ứng dụng và phát triển, ngành Phục hồi chức năng đã chứng
minh vai trò của mình trong y học là không chỉ góp phần cộng thêm năm tháng để kéo dài
đời người mà còn đóng góp tích cực vào việc cộng thêm cuộc sống sinh động cho năm
tháng. Rất nhiều người khuyết tật đã được phục hồi và tái hội nhập trở lại cuộc sống.
1.2. Định nghĩa
Phục hồi là một từ kép bao gồm 2 từ gần đồng nghĩa, PHỤC là trở lại, trở về, HỒI
là trả lại, trở lại. Như vậy, theo một nghĩa hẹp cụ thể thì từ phục hồi được áp dụng cho
người bệnh, có nghĩa là trả lại cho họ chức năng đã bị mất do hậu quả của bệnh hay chấn
thương.
Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra một định nghĩa đầy đủ về PHCN như sau: PHCN
bao gồm các biện pháp y học, kinh tế, xã hội, giáo dục hướng nghiệp và kỹ thuật phục hồi

nhằm làm giảm tác động của giảm khả năng và tàn tật, đảm bảo cho người tàn tật hội
nhập xã hội, có những cơ hội bình đẵng và tham gia đầy đủ các hoạt động của xã hội.
Phục hồi chức năng không chỉ huấn luyện người tàn tật thích nghi với môi trường
sống mà còn tác động vào môi trường và xã hội tạo nên khối thống nhất cho quá trình hội
nhập của người tàn tật.
Phục hồi chức năng là trả lại các chức năng bị giảm hoặc bị mất cho người tàn tật
hoặc là giúp họ xử trí tốt hơn với tình trạng tàn tật của mình khi ở nhà hoặc ở cộng đồng.
1.3. Mục đích của phục hồi chức năng
– Hoàn trả lại một cách tối đa các chức năng đã bị giảm hoặc bị mất cho người bệnh, tăng
cường khả năng còn lại của họ để giảm hậu quả của tàn tật.
9
– Tác động làm thay đổi tích cực suy nghĩ, thái độ của xã hội, tạo nên sự chấp nhận của xã
hội đối với người tàn tật, coi họ như một thành viên bình đẳng trong cộng đồng.
– Tác động làm cải thiện các điều kiện nhà ở, nơi làm việc, nơi công cộng, cầu cống,
đường xá, trường học. để người tàn tật có thể tham gia lao động sản xuất, học hành và
đến được những nơi mà họ cần đến để tham gia các sinh hoạt xã hội (chuyển từ biện pháp
đơn thuần y học sang biện pháp xã hội).
– Tạo việc học hành vui chơi và công việc làm ăn cho người khuyết tật, lôi kéo bản thân
người khuyết tật, gia đình và cộng đồng tham gia vào quá trình phục hồi.
– Làm cho người khuyết tật thích ứng tối đa với hoàn cảnh của họ, làm cho xã hội ý thức
được trách nhiệm của mình để người khuyết tật có cuộc sống độc lập ở gia đình và cộng
đồng.
Nói ngắn hơn, PHCN là một phương pháp sáng tạo cả về khoa học lẫn nghệ thuật,
giúp người bệnh tiến triển và tận dụng tối đa có thể được những khả năng còn lại về thể
chất, tinh thần, kinh tế, xã hội để tự giúp mình trở thành người có ích, gia nhập trở lại
cộng đồng, nghĩa là biến những người tàn tật trở thành những người TÀN mà KHÔNG
PHẾ.
1.4. Những nguyên tắc của phục hồi chức năng
– Đánh giá cao vai trò của người khuytết tật, gia đình họ và cộng đồng trong chương trình
phục hồi chức năng.

– Đánh giá đúng tình trạng khuyết tật và sức khỏe của người bệnh để có chỉ định tập
luyện phục hồi đúng lúc, đúng mức phù hợp với từng người bệnh để có kết quả phục hồi
tốt nhất.
– Phục hồi sớm, song song với quá trình điều trị để giúp người bệnh chóng phục hồi sức
khỏe, tránh được các thương tật thứ cấp và rút ngắn thời gian điều trị cũng như phục hồi ở
giai đoạn sau.
– Phải luôn luôn khiến người bệnh hoạt động vì hoạt động đem lại sức khỏe, trái lại, bất
động làm cơ thể suy yếu.
Điều quan trọng nhất là không bao giờ giúp đỡ người bệnh khi người đó có thể tự
giúp lấy mình, vì khi chúng ta làm thay mọi công việc cho người bệnh thì người bệnh sẽ
mất tự tin, tính độc lập và luôn ỷ vào người khác. Như vậy người bệnh không tích cực
hoạt động và sẽ làm chậm quá trình phục hồi. Vì lợi ích của người bệnh, vì tôn trọng
người bệnh, chúng ta có bổn phận và có quyền yêu cầu họ phải phấn đấu nhiều hơn trong
mức độ thể chất cho phép.
1.5. Khái niệm nhóm phục hồi chức năng
Phục hồi chức năng cho người khuyết tật và giúp họ trở lại với cuộc sống lao động,
học tập là một vấn đề rất lớn, đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều chuyên khoa, nhiều
ngành. Các thành viên tham gia vào việc chăm sóc, phụ hồi cho người khuyết tật được tập
hợp lại trong nhóm gọi là nhóm phục hồi. Nhóm phụ hồi bao gồm:
– Bác sỹ chuyên khoa phục hồi chức năng: chịu trách nhiệm chung về hoạt động chuyên
môn của nhóm.
– Điều dưỡng viên: chịu trách nhiệm về chăm sóc điều dưỡng phục hồi chức năng.
– Kỹ thuật viên vật lý trị liệu: chịu trách nhiệm về tập luyện vận động chung và đi lại của
người bệnh.
– Kỹ thuật viên hoạt động trị liệu: chịu trách nhiệm huấn luyện người khuyết tật việc tự
chăm sóc bản thân và thực hiện các hoạt động trong đời sống, sinh hoạt hàng ngày, giúp
10
bệnh nhân tái thích nghi với môi trường sống ở gia đình và cộng đồng sau khi bị bệnh.
– Kỹ thuật viên ngôn ngữ trị liệu: giúp bệnh nhân có rối loạn về ngôn ngữ cách giao tiếp
với mọi người.

– Kỹ thuật viên chỉnh hình: cung cấp dụng cụ chỉnh hình và dụng cụ trợ giúp phù hợp với
nhu cầu của người khuyết tật.
– Chuyên gia tâm lý: giúp người khuyết tật thích nghi về mặt tinh thần sau khi bị bệnh và
các di chứng còn lại.
– Bác sỹ chuyên khoa: chấn thương chỉnh hình, thần kinh, tim mạch…
– Cán bộ xã hôị: giúp người khuyết tật về nhà ở, công việc làm, hội nhập hoặc tái hội xã
hội.
– Cán bộ giáo dục: giúp việc học hành cho người khuyết tật.
– Bản thân người khuyết tật và gia đình họ – là thành viên không thể thiếu trong nhóm
phục hồi.
Ngày nay ở các nước tiên tiến, người ta chuyên khoa hóa tất cả các thành viên
trong nhóm phục hồi, ví dụ nhóm phục hồi chuyên cho bệnh nhân bị tai biến mạch máu
não, chuyên cho bại não, chuyên cho tổn thương tủy sống … với các kỹ thuật chuyên
biệt.,
1.6. Các hình thức phục hồi chức năng
Trên thế giới, có 3 hình thức PHCN:
– PHCN dựa vào viện, các trung tâm phục hồi chức năng
Hình thức này được triển khai từ trước đến nay ở nhiều nước trên thế giới.
+ Ưu điểm: Kết quả phục hồi nhanh hơn và phục hồi được cho nhiều trường hợp bệnh
khó nhờ có đội ngũ cán bộ có chuyên môn kỹ thuật cao và có nhiều trang thiết bị hiện đại.
+ Nhược điểm: Bất tiện cho những bệnh nhân ở xa, chỉ giải quyết cho được một số ít
người và chi phí cao.
– PHCN ngoại viện
Cán bộ chuyên khoa của các viện, các trung tâm xuống các địa phương trực tiếp tập
luyện, phục hồi cho người bệnh.
+ Ưu điểm: Các cán bộ chuyên khoa trực tiếp tập luyện nên sự tiến bộ có nhanh hơn, số
người tàn tật được tập luyện có nhiều hơn hình thức trên.
+ Nhược điểm: Chi phí cao, không đủ cán bộ và số người tàn tật được tập luyện cũng
không được nhiều.
– PHCN dựa vào cộng đồng

Người tàn tật được tập luyện phục hồi ngay tại cộng đồng bằng thân nhân người tàn
tật và cộng đồng. Thực chất của hình thức này là xã hội hóa công tác PHCN.
1.7. Các phương pháp phục hồi chức năng
– Vật lý trị liệu (sẽ có bài riêng)
– Hoạt động trị liệu
Hoạt động trị liệu (HĐTL) là sử dụng các hoạt động tự chăm sóc, công việc và trò
chơi trong điều trị nhằm gia tăng sự độc lập chức năng, tăng cường sự phát triển và ngăn
ngừa tàn tật. HĐTL có thể bao gồm sự thích ứng với công việc hay môi trường để đạt
được sự độc lập tối đa và nâng cao chất lượng cuộc sống.
– Ngôn ngữ trị liệu
Tập nói hoặc học cách sử dụng các loại ngôn ngữ giao tiếp khác (viết, động tác
bằng tay (thủ ngữ), mắt ).
11
– Giáo dục đặc biệt
Người khuyết tật (chủ yếu là trẻ khuyết tật) được học ở các trường/ lớp với sự giáo
dục đặc biệt của những giáo viên chuyên nghiệp: trường/ lớp cho người mù với chữ nổi,
cho người điếc câm với thủ ngữ
– Cung cấp chân tay giả, dụng cụ chỉnh hình và dụng cụ trợ giúp:
+ Chân tay giả.
+ Dụng cụ chỉnh hình: nẹp chỉnh hình các loại (nẹp hông, nẹp đùi, nẹp gối-cổ chân, nẹp
cổ chân), máng chỉnh hình, giày chỉnh hình
+ Dụng cụ trợ giúp: xe lăn, khung tập đi, các loại đồ dùng có tay cầm đặc biệt, ghế ngồi
đặc biệt tạo điều kiện cho người khuyết tật có thể di chuyển và thực hiện các hoạt động
sinh hoạt hàng ngày.
– Dạy nghề và hướng nghiệp
Dạy lại cho người bệnh các kỹ năng thực hiện nghề cũ hoặc học một nghề mới thích ứng
với tình trạng thương tật, sức khỏe và khả năng của họ.
2. Vai trò của người điều dưỡng trong phục hồi chức năng
2.1. Khái niệm về điều dưỡng và điều dưỡng phục hồi
Đã có những định nghĩa khác nhau về từ “Điều dưỡng”, nhưng nói một cách khái

quát thì nhiệm vụ của người điều dưỡng là trợ giúp người bệnh trong việc hoàn tất các
hoạt động, phục hồi sức khỏe. Công việc điều dưỡng được thực hiện theo chiều hướng
giúp cho người bệnh tự làm lấy mọi công việc trong khả năng về thể chất và tinh thần cho
phép-có nghĩa là giúp người bệnh ấy có khả năng sinh hoạt độc lập tối đa càng nhiều càng
tốt.
Chỉ trừ những dạng đặc biệt khó khăn đòi hỏi phải có những kiến thức và kỹ thuật
đặc biệt về chuyên ngành phục hồi, người điều dưỡng có thể làm và dạy cho người bệnh
thực hiện những điều liên quan mật thiết tới công tác phục hồi. Tuy đó có thể là những
động tác phục hồi rất đơn giản nhưng lại vô cùng cần thiết, ví dụ như các hoạt động sinh
hoạt hàng ngày như mặc và cởi áo quần, di chuyển từ giường qua xe lăn, từ xe lăn tới nhà
vệ sinh, bồn tắm, chải đầu, đánh răng, cạo râu, trang điểm Người bệnh chỉ có thể được
xem là có khả năng sinh hoạt độc lập khi chính họ tự làm được những công việc nhỏ nhặt
trong sinh hoạt hàng ngày- những điều vô cùng cần thiết của cuộc sống.
2.2. Vai trò của người điều dưỡng trong PHCN
Phục hồi chức năng cho người khuyết tật do nhóm phục hồi thực hiện. Điều dưỡng
viên là một thành viên không thể thiếu của nhóm. Điều dưỡng phục hồi là một khái niệm
mở rộng về điều dưỡng. Người điều dưỡng phải đảm nhận một lúc 4 vai trò:
– Trực tiếp làm công tác điều dưỡng trên giường bệnh.
– Phối hợp mọi yêu cầu chăm sóc y tế cho người bệnh của các thành viên trong nhóm
phục hồi.
– Giáo dục hướng dẫn về cho người bệnh và thân nhân họ cách chăm sóc và tự chăm sóc
bản thân.
– Là người tạo sự liên lạc giữa các thành viên trong Toán phục hồi.
12
2.3. Nhiệm vụ của điều dưỡng viên
-Trao đổi thông tin, cộng tác và phối hợp chặt chẽ với các thành viên trong nhóm phục
hồi.
– Tạo ra môi trường sạch sẽ, an toàn và không khí thoải mái, dễ chịu nhằm cải thiện sức
khỏe cho người bệnh.
– Đề phòng biến chứng và các thương tật thứ cấp do bất động lâu ngàyđối với hệ tim

mạch, hệ hô hấp, hệ vận động (yếu cơ, cứng khớp), hệ tiêu hóa, hệ tiết niệu-sinh dục, loét
do đè ép, nhiễm trùng…
– Giúp đỡ, động viên người bệnh về mặt tinh thần và tâm lý để xua tan nổi sợ hãi, lo âu,
thất vọng do thương tật để lại, dũng cảm đối mặt với thương tật hiện có, giúp họ lấy lại
thăng bằng, lòng tự trọng, tính độc lập và niềm tin vào cuộc sống.
– Giúp người bệnh tận dụng, duy trì và phát huy khả năng còn lại một cách tối đa.
– Giáo dục, bệnh nhân và người nhà của họ tất cả mọi vấn đề chăm sóc và tự chăm sóc
cho bản thân.
– Giải thích cho người nhà và cộng đồng hiểu và thông cảm với hoàn cảnh của người
khuyết tật.
2.4. Những yêu cầu cần có của ngươì điều dưỡng
Để giúp bệnh nhân đạt được mục tiêu của điều trị và phục hồi, người điều dưỡng
cần:
– Có kiến thức chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm, nhạy cảm đối với những nhu cầu,
tình cảm và tình trạng của người bệnh cũng như cá tính của họ.
– Có tinh thần sáng tạo, hoạt bát, cứng rắn và tự tin.
– Kiểm tra thaí độ của người bệnh đối với sự giảm khả năng của họ. Nếu phát hiện thấy ở
họ xuất hiện thái độ không tích cực thì cần phải hỗ trợ, giúp họ lấy lại lòng tin, lòng tự
trọng để đối đầu với thực tế và tích cực tham gia vào chương trình tập luyện phục hồi.
KẾT LUẬN
Chăm sóc điều dưỡng là một bộ phận rất quan trọng trong việc điều trị và phục hồi
chức năng cho người bệnh. Chất lượng của điều trị và phục hồi phụ thuộc rất lớn vào
công tác điều dưỡng, do đó điều dưỡng viên không chỉ là người tinh thạo về chuyên môn
mà còn là người có tình thương thật sự và trách nhiệm lớn lao đối với người bệnh và là
một thành viên không thể thiếu trong nhóm phục hồi.
BÀI 3: MỘT SÔ PHƯƠNG THỨC VẬT LÝ TRỊ LIỆU THƯỜNG DÙNG
13
Mục tiêu học tập
Sau khi học xong bài này, học viên có khả năng:
1. Mô tả được bản chất, tác dụng sinh học, chỉ định chống chỉ định của các phương pháp

vật lý trị liệu thường dùng: nhiệt nóng, lạnh, thủy trị liệu, điện và ánh sáng trị liệu.
2. Trình bày được các khái niệm cơ bản, mục đích của vận động trị liệu.
I. ĐẠI CƯƠNG
Vật lý trị liệu là sử dụng các tác nhân vật lý (có sẵn trong tự nhiên hoặc nhân tạo)
để điều trị. Về bản chất chúng bao gồm:
– Nhiệt trị liệu (nóng và lạnh).
– Ánh sáng trị liệu (hồng ngoại, tử ngoại, laser).
– Điện trị liệu (các dòng điện thấp tần, trung tần, cao tần).
– Vận động trị liệu, kéo giãn, kéo nắn, xoa bóp.
– Hoạt động trị liệu.
– Thủy trị liệu.
II. NHIỆT TRỊ LIỆU
1. Nhiệt nóng
1.1. Tác dụng sinh lý:
Tác dụng sinh học đối với mô của cơ thể phụ thuộc vào cường độ nóng được áp dụng
(khoảng 40-45
0
C), thời gian áp dụng (thường từ 15-30 phút), phạm vị cơ thể được sưởi
nóng, tốc độ được sưởi nóng. Nhiệt nóng có tác dụng:
– Giãn mạch tại chỗ hoặc toàn thân (thông qua tác dụng tại chỗ và phản xạ), tăng lưu
thông máu.
– Giảm đau, giảm phù nề, giảm viêm.
– Tăng tính kéo giãn của các mô liên kết.
– Giảm hiện tượng cứng khớp.
– Tăng chuyển hóa.
1.2. Chỉ định điều trị:
Nhiệt nóng được sử dụng trong nhiều loại bệnh, đặc biệt là các bệnh thuộc hệ vận
động: giảm đau, co rút khớp, co cứng, co rút khớp, giảm tầm vận động, viêm bán cấp và
mạn tính.
1.3. Chống chỉ định và thận trọng:

Viêm cấp, chấn thương mới, chảy máu mới hoặc nguy cơ chảy máu, vùng da mất
cảm giác, mất nhận thức đau (hôn mê, suy giảm trí tuệ), u các loại, phù, các vết thương
hở. Thận trọng với người già, trẻ con.
1.4. Phân loại nhiệt nóng:
Nhiệt nóng được phân làm 2 loại: nhiệt nóng nông và nhiệt nóng sâu.
1.4.1. Nhiệt nóng nông:
– Là nhiệt có khả năng xuyên sâu qua da đến 2cm. Bao gồm: túi chườm nóng, nước nóng,
xông hơi, bó sáp, tia hồng ngoại, tử ngoại, laser. Áp dụng ở vùng được che phủ bởi lớp tổ
chức liên kết mỏng (như bàn tay, bàn chân) và có thể tác dụng sâu nhờ cơ chế phản xạ.
Nhiệt tác dụng tối đa ở da và tổ chức dưới da.
14
+ Túi nóng ẩm: đó là những túi vải chứa silicats ngậm nước được nhúng vào nước có
nhiệt độ 70- 80
0
C. Túi được bọc trong 6-8 lớp khăn và đắp vào vùng điều trị từ 20-30
phút. Ngoài ra, hiện nay trên thị trường cũng có túi điện có điều khiển hoặc túi gel nóng.
+ Parafin: là hỗn hợp 1 phần dầu khoáng, 7 phần parafin được đun nóng đến 52-54
0
C.
Dầu khoáng hạ thấp điểm nóng chảy của parafin và hỗn hợp đó với nhiệt độ 47-54
0
C.
Parafin có thể dử dụng bằng cách nhúng nhanh phần điều trị (ngón, bàn, cẳng tay, khuỷu
tay ) vào parafin rồi rút ra, chờ cho parafin khô rồi nhúng lần tiếp theo. Nhúng 7-8 lần,
sau dó bọc lại bằng nilon rồi bọc thêm khăn để giữ sức nóng; hoặc đổ parafin ra khay chờ
cho đến khi tạo thành lớp váng trên bề mặt là có thể đắp, bó vào vùng cần điều tri (lưng,
vai ) cho bệnh nhân được.
+ Tia hồng ngoại.
Năng lượng hồng ngoại có thể qua da và chuyển thành nhiệt cho điều trị nông. Hồng
ngoại được điều trị bằng cách chiếu vào phần bề mặt cơ thể. Khoảng cách từ đèn đến bề

mặt từ 45-60cm. Thời gian chiếu từ 20-30 phút.
1.4.2. Nhiệt nóng sâu:
Là nhiệt có khả năng xuyên sâu từ 3cm đến 6cm mà không làm tăng nhiệt độ da và tổ
chức dưới da. Nhiệt sâu dùng để điều trị các tổ chức ở sâu như khớp háng, khớp gối, cơ
vùng thắt lưng. Nhiệt được sinh ra nhờ chuyển năng lượng thành nhiệt, qua da vào sâu
các tổ chức dây chằng, cơ, xương, bao khớp. Nhiệt sâu thường được sử dụng dưới các
dạng siêu âm, sóng ngắn và vi sóng.
2. Nhiệt lạnh
Là biện pháp điều trị ở môi trường có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ bình thường của cơ
thể được điều trị.
2.1. Tác dụng sinh lý:
– Gây co mạch tại chỗ, có thể lan rộng nhờ cơ chế phản xạ.
– Giảm chuyển hóa
– Tăng ngưỡng kích thích thần kinh
– Giảm dẫn truyền cảm giác, vận động thần kinh.
– Giảm tính đàn hồi của tổ chức
– Giảm phù nề,
– Giảm trương lực cơ, giảm co cứng, co thắt cơ.
2.2. Chỉ định điều trị:
– Giảm đau.
– Giảm co rút, co giật.
– Giảm viêm (viêm cấp), giảm phù nề (sau chấn thương mới, bỏng).
2.3. Chống chỉ định:
– Viêm tắc động mtinx mạch.
– Mẫn cảm với lạnh, đái máu, đái globulin khi gặp lạnh
– Vùng da mất cảm giác.
– Vùng da vô mạch.
– Tăng huyết áp nặng.
– Thận trọng với người già, trẻ nhỏ.
2.4. Các hình thúc áp dụng:

– Túi chờm lạnh: đặt trong tủ lạnh có nhiệt độ 5
0
C, chờm trong 20-30 phút.
– Xoa xát bằng đá lạnh: để điều trị tại chỗ, vùng hẹp.
15
– Khăn lạnh
– Bể nước lạnh từ 13-18
0
C: nhúng các phần chi thể cần điều trị từ 20-30 phút.
– Phun hơi lạnh: ethylchloride hoặc fluorimethane làm giảm co rút cơ.
III. ĐIỆN TRỊ LIỆU
1. Định nghĩa
Điện trị liệu là sử dụng năng lượng điện qua bề mặt cơ thể để kích thích thần kinh, cơ
hoặc cả hai bằng cách sử dụng điện cực trên bề mặt.
2. Các dòng điện điều trị
Do nhiều loại dòng điện được sử dụng và tác dụng của chúng cũng khác nhau nên
điện trị liệu được chia ra: liệu pháp nhiệt và điện kích thích.
– Điện nhiệt: các dòng điện có tần số trên 100.000 hz (hz là số xung trong 1 giây) tạo
nhiệt vùng mô cần điều trị, không gây kích thích thần kinh hoặc cơ. Đây là các dòng điện
co tần, bao gồm sóng ngắn, sóng cực ngắn hoặc vi sóng (đã trình bày ở phân Nhiệt nóng
sâu).
– Điện kích thích: bao gồm các dòng điện có tần số dưới 100.000 hz. Các dòng điện này
gây kích thích hệ thần kinh và cơ dù với cường độ rất thấp. Các dòng điện kích thích được
chia làm 2 loại: các dòng điện thấp tần (tần số nhỏ hơn 1000 hz), tạo được kích thích nhịp
lên thần kinh và cơ và các dòng điện trung tần (tần số 1.000 đến 100.000 hz), không tạo
được kích thích với từng nhịp đơn mà chỉ tạo được kích thích khi có nhóm kích thích.
Phần này chỉ đề cập đến điện kích thích.
3. Tác dụng sinh lý của điện kích thích:
– Tăng tần hoàn
– Giảm đau

– Điện dẫn thuốc (dưới tác dụng của dòng điện, có thể dẫn một số thuốc vào cơ thể qua
da).
– Kích thích cơ và thần kinh
– Tác dụng lên cơ quan nội tạng (trực tiếp hay qua phản xạ).
3. Chỉ định điều trị
– Đau các loại: đau cấp và mạn tính trong các bệnh cơ-xương-khớp, thần kinh, đau sau
phẫu thuật
– Co thắt cơ, teo cơ.
– Rối loạn vận mạch như suy tĩnh mạch, rối loạn mạch thần kinh.
4. Chống chỉ định
– Viêm tắc tĩnh mạch.
– Loạn nhịp tim, đang đặt máy tạo nhịp tim.
– U các loại.
– Chảy máu hoặc có nguy cơ chảy máu.
– Gãy xương giai đoạn sớm
– Phụ nữ đang mang thai.
IV. ÁNH SÁNG TRỊ LIỆU
Ánh sáng là một loại dao động sóng điện từ, có nguồn gốc tự nhiên như ánh sáng
mặt trời hoặc có nguồn gốc nhân tạo.
1 Tia hồng ngoại:
Là ánh sáng có bước sóng từ 760- 3000nm, mắt người không nhìn thấy. Có nguồn gốc
16
tự nhiên (ánh sáng mặt trời) hoặc nhân tạo.
Tác dụng sinh lý, chỉ định, chống chỉ định như ở phần nhiệt nóng.
2. Tia tử ngoại ( tia cực tím):
Có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo. Bước sóng từ 200-400nm (1nm=10
-9
m, mắt
người không nhìn thấy).
2.1. Tác dụng sinh lý:

– Diệt khuẩn.
– Giãn mạch, làm đỏ da, tạo nhiễm sắc ở da, tăng tạo vitamin D, tăng chuyển hóa canxi.
2.2. Chỉ định điều trị:
– Các vết thương, vết loét lâu lành, nhiễm khuẩn.
– Các bệnh về da nhưnấm da, chàm, vẩy nến, viêm lỗ chân lông…).
– Các rối loạn Ca/P.
2.3. Chống chỉ định và thân trọng:
– Lao phổi tiến triển,
– Bệnh tim nặng.
– Suy gan, thận.
– Rối loạn cảm giác.
– Đái tháo đường nặng.
– Người quá mẫn cảm với ánh sáng.
– Phải đeo kính bảo vệ mắt cho bệnh nhân và thầy thuốc khi tiến hành điều trị.
3. Tia Laser
Laser là một loại ánh sáng đặc biệt, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Trong chuyên ngành vật lý trị liệu, người ta sử dụng laser năng lượng thấp được chế tạo
bởi khí helium-nion (Laser He-Ne), laser bán dẫn…
3.1. Tác dụng sinh học:
– Kích thích lành các vết thương.
– Tăng thực bào và khả năng diệt khuẩn.
– Giảm phù nề.
– Giảm đau.
3.2. Chỉ định điều trị:
– Điều trị loét, bỏng, đụng giập phần mềm.
– Đau đầu, đau vai gáy, đau xương khớp,
– Các gãy xương chậm liền.
3.3. Chống chỉ định:
– Có thai 3 tháng đầu, ung thư, người nhạy cảm với ánh sáng.
– Người bệnh tim nặng; người đang đặt máy tạo nhịp.

– Không được chiếu trực tiếp vào mắt,
V. THỦY TRỊ LIỆU
Là phương pháp sử dụng nước điều trị thông qua việc tác động lên bề mặt ngoài cơ
thể. Nước là mội trường thuận tiện để trao đổi nhiệt lượng với cơ thể, để tạo sức ép và sự
kích thích cơ học trên bề mặt da và để thực hiện sự đề kháng hay trợ giúp đối với các cử
động chủ động.
1. Tác dụng sinh lý: tác dụng sinh lý của thủy trị liệu nhờ tác dụng đặc thù của nước: sức
đẩy, áp lực, trọng lượng riêng, tính linh hoạt, nhiệt độ, hóa chất và tác dụng của nhiệt
17
nóng và nhiệt lạnh nói chung giống như các tác dụng chung của 2 loại nhiệt này.
2. Chỉ định, chống chỉ định: như các chỉ định và chống chỉ đinh chung của nhiệt nóng trị
liệu và nhiệt lạnh trị liệu.
3. Các hình thức sử dụng: có nhiều hình thức sử dụng, ở đây chỉ nêu một số phương
thức thường được sử dung tại Việt Nam.
3.1. Ngâm nước nóng toàn thân:
Tùy theo nhiệt độ, tính chất của nước và thời gian ngâm để có những kết quả khác
nhau. Về tính chất, nước khoáng có tác dụng kích thích mạnh hơn và gây đổ mồ hôi
nhanh hơn nước thường.
3.1.1. Tác dụng sinh lý:
+ Tăng tuần hoàn ngoại biên, tăng nhịp tim, tăng thân nhiệt, tăng chuyển hóa và đổ mồ
hôi.
+ Thư giãn cơ, giảm co rút, giảm đau.
+ Huyết áp khởi đầu tăng rồi hạ, nhịp thở nhanh, nông.
3.1.2. Kỹ thuật: làm cho nhiệt độ trong bồn ngâm đến 30
0
C, là nhiệt độ tạo giãn cơ tối đa.
Có thể kết hợp xoa bóp dưới nước và tập vận động dưới nước.
3.1.3. Chỉ định: đau khớp, viêm dây thần kinh, các chứng đau của hệ tiêu hóa và tiết niệu.
3.1.4.Chống chỉ định: bệnh nặng, cao huyết áp, xơ cứng động mạch, bướu giáp nặng,
động kinh, bệnh van tim, xu hướng chảy máu, rối loạn cảm giác nóng lạnh.

3.2. Ngâm từng phần
Được áp dụng cho bệnh nhân không có khả năng chịu đựng ngâm toàn thân hoặc chỉ
có yêu cầu điều trị cục bộ. Vùng điều trị có thể là chân, tay
3.2.1. Tác dụng sinh lý: tạo xung huyết da và tăng tuần hoàn cục bộ, tạo thư giãn cơ, giảm
co thắt cơ, giảm đau.
3.2.2. Kỹ thuật điều trị: ngâm phần cần điều trị vào nước thường, sau đó đổ thêm nước
nóng vào để đạt đến nhiệt độ 43
0
C. Thời gian ngâm: 10-30 phút. Sau khi ngâm, phần điều
trị cần được lau khô.
3.2.3. Chỉ định: Đau cơ, xương, khớp, thần kinh, chẹo chân giai đoạn bán cấp và mạn, rối
lọan đinh dưỡng, tuần hoàn sau bất động (do bó bột).
3.3. Ngâm nước nóng-lạnh
Là cách ngâm một phần cơ thể trong nước nóng và lạnh xen kẽ.
3.3.1. Tác dụng: tạo co thắt và thư giãn các mạch máu, làm gia tăng nhịp độ tuần hoàn tới
phần chi thể. Sự cải thiện tuần hoàn theo cách ngâm này đáng kể hơn và kéo dài hơn so
với cách ngâm đơn thuần chỉ với nóng hay lạnh.
3.3.2. Kỹ thuật: 2 thùng nước, thùng nước nóng (38-44
0
C), thùng nước lạnh (16-18
0
C).
Nhúng nóng 3 phút rồi nhứng lạnh ngay 1 phút. Nhúng luân phiên như vậy 4-5 lần (tốt
nhất là nhứng lần dầu và lần cuối trong nước nóng).
3.3.3. Chỉ định: rối loạn tuần hoàn ngoại vi do co thắt động mạch, loạn dưỡng do rối loạn
thần kinh thực vật, đổ mồ hôi chân tay, đau cơ, co cơ, đau khớp, đau mỏm cụt.
3.3.4. Chống chỉ định: xơ cứng động mạch, hẹp mạch do đái đường, viêm tắc động mạch
đầu chi.
3.4. Nước khoáng, bùn trị liệu
– Nước khoáng nóng: là nguồn nước ngầm. có nhiều loại nước khoáng tùy thuộc thành

phần nguồn nước (nhiều CO2, lưu huỳnh ) thích hợp cho từng loại bệnh.
Hình thức sử dụng: uống, ngâm, tắm.
18
– Bùn: có nguồn gốc cây cối sinh vật. Có thể dùng để đắp, tắm.
– Chỉ định điều trị: tùy đặc điểm của từng nguồn nước khoáng hay bùn, có thể dùng để
điều trị các bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, cơ xương khớp, thần kinh
– Chống chỉ định: u các loại, các bệnh nặng.
VI. XOA BÓP TRỊ LIỆU
Xoa bóp là một từ dùng để chỉ một nhóm kỷ thuật ích thích hệ thần kinh tổ chức dưới
da, các mô của cơ thể một cách có khoa học và hệ thống nhằm mục đích điều trị.
1. Tác dụng sinh lý
– Cơ chế cơ học tại chỗ, tăng cường lưu thông máu, giảm đau, giảm phù nề; chống dính;
làm mềm sẹo.
– Hiệu quả phản xạ tạo cảm giác thích thú, thư giãn, an thần, làm dịu đau.
2.Chỉ định
– Giảm đau, thư giãn cơ
– Chuẩn bị cho tập vận động.
– Làm dịu về mặt tâm lý, giảm căng thẳng thần kinh
Xoa bóp không làm giảm béo, không thay đổi khối lượng, không tăng sức mạnh cơ.
Hiệu quả quan trọng của xoa bóp là làm dịu.
3. Hình thức sử dụng
Có thể xoa bóp bằng tay hoặc sử dụng thiết bị cơ học (thiết bị rung, xoa bóp thay đổi
áp lực, xoa bóp dưới vòi phun.
VII. VẬN ĐỘNG TRỊ LIỆU
1. Định nghĩa
Vận động trị liệu là thực hiện các vận động, các tư thế hoặc các hoạt động thể lực của
cơ thể một cách có hệ thống và kế hoạch nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh và phục
hồi chức năng.
2. Mục đích
– Giảm thiểu hoặc phòng ngừa khiếm khuyết.

– Cải thiện, phục hồi hoặc tăng cường chức năng thể chất.
– Phòng ngừa hoặc giảm thiểu các yếu tố nguy cơ liên quan đến sức khỏe.
– Tăng cường sức khỏe, tăng khả năng thích ứng của cơ thể và sự thoải mái về tinh thần
Mỗi người bệnh có một chương trình tập luyện riêng, phù hợp với nhu cầu của người
đó và được lập bởi kỹ thuật viên vật lý trị liệu.
3. Các loại bài tập thường áp dụng:
Trong phục hồi chức năng, người ta thường áp dụng các bài tập vận động sau: tập
theo tầm vận động khớp, tập kháng trở, tập aerobic, kéo dãn, vận động khớp ngoại biên và
tập trong nước, tập vận động chức năng và các bài tập cho các chuyên khoa (sản phụ
khoa, lồng ngực, tim mạch ).
3.1.Tập theo tầm vận động
Sự vận động hoàn toàn của một khớp gọi là tầm vận động. Khi một khớp cử động,
mọi cấu trúc liên quan đến nó (cơ, diện khớp, giây chằng, bao khớp, cân, mạch máu, thần
kinh) đều tham gia vào quá trình này. Để mô tả tầm vận động khớp, người ta dùng các
thuật ngữ gập, duỗi, dạng, khép, xoay.
3.1.1. Tập vận động thụ động
– Định nghĩa: là vận động được thực hiện bởi người điều trị, hoặc dụng cụ cơ học. Trong
19
bài tập này, không có sự co cơ chủ động của phần chi thể được tập.
– Mục đích: Mục đích đầu tiên của tập vận động thụ động là làm giảm các biến chứng có
thể xẩy ra do bất động.
3.1.2. Tập vận động chủ động có trợ giúp
– Định nghĩa: tập vận động chủ động có trợ giúp là bài tập vận động do chính người bệnh
tự thực hiện (tự co cơ), nhưng để thực hiện động tác một cách hoàn chỉnh cần phải có sự
trợ giúp của một lực bên ngoài (bằng tay hoặc dụng cụ cơ học).
– Mục đích: Như của tập vận động thụ động.
– Chỉ định: Khi cơ bắp còn yếu (cơ không thắng được trọng lực).
3.1.3. Tập vận động chủ động
– Định nghĩa: Tập vận động chủ động là vận động được thực hiện bởi chính người bệnh
tự co cơ không cần sự trợ giúp.

– Mục đích của tập vận động chủ động: Như những mục đích của tập vận động thụ động.
3.2. Tập có kháng trở
3.2.1. Định nghĩa:
Tập có kháng trở là bất kỳ loại bài tập chủ động nào trong đó có sự co cơ động hay
tĩnh bị kháng lại bởi một lực từ bên ngoài. Lực kháng bên ngoài có thể bằng tay hoặc
bằng máy.
3.2.2. Chỉ định: khi cơ đã đạt được bậc 4 hoặc bậc 5.
3.2.3. Mục đích:
– Tăng sức mạnh của cơ (sức mạnh cơ là lực tạo ra kho co cơ)
– Tăng sức bền của cơ (sực bền là khả năng thực hiện bài tập cường độ thấp trong một
thời gian kéo dài).
3.2.4. Chống chỉ định và thân trọng:
– Chống chỉ định: khi có viêm nhiễm, đau nhiều.
– Thận trọng: người bệnh có các bệnh tim mạch, cao tuổi, quá mệt mỏi, loãng xương
3.3 Tập kéo giãn
3.3.1. Định nghĩa:
Tập kéo giãn là động tác tập dùng cử động cưỡng bức do người tập hay dụng cụ thực
hiện.
3.3.2. Chỉ định: Tầm hoạt động của khớp bị giới hạn do hậu quả của co rút, dính khớp và
hình thành tổ chức sẹo, dẫn đến các cơ, tổ chức liên kết và da bị ngắn lại so với bình
thường.
3.3.3. Mục đích: Tái thiết lập lại tầm hoạt động của khớp và vận động của các tổ chức
mềm quanh khớp.
4.4. Các bài tập vận động trị liệu chức năng:
– Tập trên đệm: thay đổi tư thế, thang bằng ngồi, di chuyển
– Tập với thanh song song: tập tăng sức chịu đựng khi đúng, tập thăng bằng, tập đi
– Tập thăng bằng với nạng: tập thăng bằng bên, trước sau,
– Tập di chuyển: tập dáng đi, di chuyển với xe lăn,
– Hoạt động trị liệu: tập phục hồi và phát triển trở lại tư duy, sự khéo léo của bàn tay và
tập cho người bệnh sử dụng lại các dụng cụ tay chân giả, dụng cụ chỉnh hình, hoặc dụng

cụ trợ giúp nhằm đạt sự độc lập tối đa của người bệnh.
20
BÀI 4: PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
Mục tiêu học tập
Sau khi học xong bài này, học viên có khả năng:
1. Trình bày được định nghĩa, mục tiêu của phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.
2. Trình bày và giải thích được các giai đoạn triển khai chương trình phục hồi chức năng
dựa vào cộng đồng.
3. Trình bày được trách nhiệm của từng cấp trong chương trình phục hồi chức năng dựa
vào cộng đồng.
4. Trình bày được các điều kiện cơ bản để triển khai chương trình phục hồi chức năng
dựa vào cộng đồng và tiêu chuẩn hội nhập xã hội cho người khuyết tật.
Nội dung
I. ĐỊNH NGHĨA
Cộng đồng: là những người sống và sinh hoạt với nhau tại một địa phương, đơn vị
hành chính nhỏ nhất (cùng chia sẽ về phong tục, tập quán, dịch vụ ).
Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (PHCNDVCĐ) là một biện pháp chiến
lược nằm trong sự phát triển của cộng đồng nhằm đảm bảo cho tất cả những người tàn tật
được PHCN, được bình đẳng về mọi cơ hội và hội nhập xã hội.
PHCNDVCĐ được triển khai với sự phối hợp chung của chính bản thân người tàn
tật, gia đình họ và cộng đồng bẵng những dịch vụ y tế, giáo dục hướng nghiệp và xã hội
thích họ .
Thực chất của PHCNDVCĐ là chuyển giao kiến thức về tàn tật và phòng ngừa tàn
tật, kỹ năng phục hồi và thái độ tích cực đến với người tàn tật, gia đình họ và cộng đồng
và biến công tác PHCN thành công việc của cộng đồng đồng thời thông qua các tổ chức ở
cộng đồng để xã hội hóa và dân chủ hóa công tác phòng ngừa tàn tật và PHCN.
II. MỤC TIÊU CỦA PHCNDVCĐ
1) Làm thay đổi nhận thức của xã hội để xã hội chấp nhận người khuyết tật là thành viên
bình đẵng trong cộng đồng.
2) Làm cho cộng đồng nhận thức đúng vai trò của mình trong PHCNDVCĐ và biến

PHCN thành một nhiệm vụ, một bộ phận của quá trình phát triển xã hội.
3) Lôi kéo sự tham gia của chính người khuyết tật và gia đình họ vào quá trình PHCN.
4) Lôi kéo sự hợp tác đa ngành, sự giúp đỡ của tuyến trên.
5) Sử dụng các kỹ thuật thích hợp để biến kiến thức và kỹ năng PHCN áp dụng ngay tại
cộng đồng.
III. TẠI SAO CẦN TRIỂN KHAI PHCNDVCĐ
– Do sự phân bố không hợp lý giữa số lượng người khuyết tật có thể phục hồi và cán bộ
PHCN ở các tuyến (Hình 1). Như vậy, giải pháp duy nhất để cân bằng sự mất cân đối về
cán bộ PH và đáp ứng được nhu cầu của đại đa số người khuyết tật là phát triển PHCN tại
tuyến cơ sở (tôn, bản, xã, phường).
– PHCNDVCĐ đáp ứng được nhu cầu phục hồi của phần đông người khuyết tật.
21
– PHCN là một quá trình lâu dài, nên cách tốt nhất là được tiến hành ngay tại cộng đồng,
nơi người khuyết tật sinh sống.
Phân bố người tàn tật có thể Sự phân bố cán bộ PHCN
phục hồi tại các tuyến tại các tuyến
1-5% Trung ương 79-85%

5-10% Tỉnh, thành 5-10%
5-10% Huyện 1%(0%)

75-80% Xã 0%

Hình 1. So sánh phân bố nhu cầu PHCN và số lượng cán bộ PHCN ở các tuyến
IV. CÁC DẠNG TÀN TẬT VÀ NHU CẦU CẦN PHỤC HỒI
1. Các dạng tàn tật
Để dễ nhận biết, dễ thực nhiện cũng như để tạo điều kiện thuận lợi cho người
khuyết tật chấp nhận tình trạng khuyết tật của mình và tăng cường khả năng hợp tác của
họ, người ta phân tàn tật thành các dạng như sau:
– Người có khó khăn về vận động

– Người có khó khăn về học
– Người có khó khăn về nhìn
– Người có khó khăn về nghe nói
– Người có hành vi xa lạ
– Người động kinh
– Người bị mất cảm giác.
2 Nhu cầu phục hồi
Căn cứ vào nhu cầu thiết yếu về chức năng và xã hội nhằm đảm bảo sự độc lập
trong sinh hoạt và trong cuộc sống của người khuyết tật, TCYTTG đã đưa ra 23 nhu cầu
hoạt động cơ bản trong các lĩnh vực tự chăm sóc, giao tiếp, di chuyển và sự tham gia các
hoạt động gia đình và xã hội. Sự thực hiện các hoạt động thiết yếu này được đánh giá ở 3
mức độ:
* Mức 0: Người khuyết tật thực nhiện được các hoạt động mà không cần trợ giúp.
* Mức 1: Người khuyết tật thực nhiện được một phần.
* Mức 2: Người khuyết tật không thực nhiện được, hoàn toàn dự vào người khác.
Nếu có bất kỳ hoạt động nào trong 23 hoạt động cơ bản được đánh giá ở
mức độ 1 và 2 thì người đó là người có nhu cầu cần phục hồi.
22
V. TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH PHCNDVCĐ
1. Các giai đoạn triển khai chương trình PHCNDVCĐ
1.1.Giai đoạn 1- Chuẩn bị và triển khai chương trình:
Gồm các công việc sau:
– Tuyến tỉnh và huyện:
+ Thành lập ban điều hành chương trình cấp tỉnh/huyện (lồng ghép vào ban điều hành
chương trình CSSKBĐ.
+ Tổ chức Hội thảo cho các cán bộ lãnh đạo các ban ngành cấp tỉnh /huyện và tập huấn ở
cấp tỉnh/huyện kỹ thuật về PHCNDVCĐ cho các bác sỹ, KTV PHCN, y sỹ và giáo viên.
– Tuyến cơ sở (xã, phường, thôn, bản):
+ Thành lập ban điều hành chương trình cấp cơ sở (lồng ghép vào ban điều hành chương
trình CSSKBĐ.

+Tổ chức hội thảo cho cán bộ lãnh đạo các ban ngành của xã và tập huấn kỹ thuật PHCN
theo cuốn “Huấn luyện người tàn tật tại cộng đồng”cho nhân viên PHCN cộng đồng (nhân
viên CSSKBĐ) bao gồm y tế đội, giáo viên, chữ thập đỏ
+ Nhân viên PHCN cộng đồng bắt đầu triển khai các hoạt động PHCNDVCĐ (sau khi đã
được tập huấn).
+ Y/Bác sỹ xã thu thập và theo dõi, quản lý chương trình cùng với sự hỗ trợ chuyên môn
của KTV PHCN huyện và tĩnh.
1.2. Giai đoạn 2- Duy trì chương trình:
– Tiếp tục duy trì một số hoạt động trong giai đoạn 1 và triển khai thêm các hoạt động sau:
– Phát triển hệ thống hồ sơ theo dõi, báo cáo về tiến độ thực hiện chương trình
(theo các mẫu báo cáo do ban điều hành chương trình TW đề ra). Thường xuyên đánh giá
lại và đặt kế hoạch bổ sung.
– Củng cố và nâng cấp các cơ sở tham vấn chuyên môn như trạm y tế, khoa PHCN bệnh
viện huyện, tỉnh.
– Tổ chức tập huấn và nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ thuật cho các cán bộ y tế cộng
đồng.
– Tạo thuận lợi và thu xếp cho người khuyết tật hội nhập xã hội, có chất lượng cuộc
sống tốt hơn (trẻ em được đi học, người lớn có việc làm, thu nhập ổn định )
2. Phân cấp trách nhiệm trong chương trình PHCNDVCĐ
2.1. Trách nhiệm của thành viên gia đình và người khuyết tật:
– Báo cáo tình trạng khuyết tật cho nhân viên PHCNDVCĐ
– Sử dụng tài liệu “Huấn luyện người tàn tật tại cộng đồng”.
– Thay đổi điều kiện trong nhà sao cho thích nghi với người khuyết tật.
– Tăng cường sự chấp nhận người tàn tật trong gia đình.
2.2. Trách nhiệm của nhân viên PHCNDVCĐ (nhân viên CSSKBĐ):
– Phát hiện người khuyết tật.
– Đánh giá nhu cầu cần phục hồi.
– Ghi kết quả điều tra vào phiếu.
– Nộp toàn bộ phiếu điều tra lên trạm y tế.
– Lập kế hoạch phục hồi cho người khuyết tật do mình phụ trách.

23
– Chọn tài liệu huấn luyện phù hợp cho từng người khuyết tật.
– Chọn thành viên gia đình thích hợp để huấn luyện kỹ năng phục hồi.
– Hướng dẫn thành viên gia đình cách sử dụng tài liệu và thực hiện các bài tập phục hồi.
– Theo dõi, động viên, khuyến khích người khuyết tật và thành viên gia đình.
– Kiểm tra, đánh giá theo định kỳ, bổ sung nâng cáo kiến thức cho người huấn luyện.
– Liên hệ chuyển người khuyết tật nặng lên tuyến trên.
2.3. Trách nhiệm của y, bác sỹ trạm y tế xã:
– Xử lý và tổng hợp kết quả điều tra theo mẫu “Mô hình tàn tật”.
– Phân công khu vực PHCN cho các nhân viên PHCNCĐ (lên bản đồ PHCN).
– Cung cấp phiếu đánh giá kết quả phục hồi của người khuyết tật tại cộng đồng cho nhân
viên PHCNCĐ.
– Theo dõi ghi chép kết qủa phục hồi của nhân viên PHCNCĐ vào phiếu đánh gía.
– Chuẩn bị nội dung và tổ chức họp giao ban hàng tháng với các nhân viên PHCNCĐ.
– Lưu giữ mọi hồ sơ liên quan đến người khuyết tật tại địa phương.
– Liên hệ với tuyến trên để chuyển người khuyết tật hoặc hỗ trợ về chuyên môn cho nhân
viên PHCNCĐ khi cần.
2.4. Trách nhiệm của y/bác sỹ, KTV PH tuyến huyện, tỉnh và phòng khám đa khoa khu
vực:
– Tham gia quản lý và điều hành chương trình PHCNDVCĐ tại địa phương. Giúp các
nhân viên PHCNCĐ điều trị và PHCN cho người khuyết tật.
– Trực tiếp huấn luyện và kiểm tra về chuyên môn kỹ thuật PHCN cho cán bộ địa phương.
– Tổ chức các lớp huấn luyện, giúp tuyến dưới những kỹ thuật mà họ chưa nắm được.
– Gửi những người khuyết tật cần phải điều trị ở tuyến cao hơn lên tuyến trên.
– Thảo luận và đề xuất với gia đình, cộng đồng tạo công ăn việc làm thích hợp cho người
lớn khuyết tật, học hành cho trẻ khuyết tật đến tuổi đi học.
2.5. Trách nhiệm của ban điều hành chương trình PHCNDVCĐ:
PHCN là nhiệm vụ của toàn xã hội. Đơn vị trực tiếp quản lý là Ban điều hành
chương trình PHCNDVCĐ. Ban này được lồng ghép trong ban điều hành CSSKBĐ dưới
sự lãnh đạo của UBND các cấp. Trách nhiệm của ban điều hành bao gồm:

– Điều hành chương trình PHCN tại địa phương.
– Lôi kéo các ngành, các cấp và toàn thể cộng đồng cùng tham gia vào chương trình
PHCNDVCĐ. Tạo mọi điều kiện để người khuyết tật được tham gia hoạt động xã hội: trẻ
em được đi học, người lớn có công ăn việc làm.
– Mở các lớp huấn luyện cho cán bộ y tế cộng đồng hiểu biết các phương pháp huấn luyện
và kỹ thuật phục hồi.
– Định kỳ tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm và đề ra phương hướng chiến lược và nhiệm
vụ trong từng giai đoạn cụ thể.
– Ngành y tế chịu trách nhiệm chủ động tham mưu cho chính quyền chỉ đạo phát triển
chương trình.
3. Hệ thống tổ chức PHCNDVCĐ lồng ghép trong công tác CSSKBĐ
24
Cơ sở quản lý Tuyến Nhân lực thực hiện
Gia đình – Người khuyết tật
– Người huấn luyện,
– UBND/BĐH xã Cộng đồng – NVCSSKBĐ cộng đồng
– Trạm y tế – Cán bộ y tế
– Trường phổ thông – Hội viên Hội chữ thập đỏ
– UBND/BĐH huyện Huyện – BS, KTV PHCN
– TT y tế huyện
– UBND/BĐH tỉnh Tỉnh – BS,KTV PHCN
– Sở Y tế
Ban điều hành TW TW – BS, chuyên viên Bô Y Tế
– Viện và Bệnh viện TW
VI. CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN ĐỂ TRIỂN KHAI VÀ DUY TRÌ CHƯƠNG TRÌNH
– Phải có sự ủng hộ của lãnh đạo địa phương.
– Phát triển nhân lực thực hiện chương trình đủ và đảm bảo chất lượng.
– Xây dựng hệ thống tham vấn chuyên môn vũng mạnh ở các tuyến (nâng cấp trạm y tế
xã, xây dựng và cung cấp trang thiết bị tối thiểu đồng thời đào tạo nhân lực cho khoa
PHCN tuyến huyện, tỉnh, trang thiết bị hiện đại và phát triển chuyên khoa sâu ở các bệnh

viện/ viện PHCN tuyến TW, xây dựng bộ môn PHCN ở các trường đại học, cao đẳng và
trung học y tế.
– Đảm bảo đủ điều kiện vật chất triển khai chương trình như tài liệu huấn luyện, nguyên
vật liệu làm dụng cụ trợ giúp như tre, gỗ
– Đảm bảo kinh phí thực hiện chương trình.
VII. CÁC TIÊU CHUẨN HỘI NHẬP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
– Người khuyết tật được sống bình đẵng, không bị cách biệt trong gia đình và ngoài xã hội
– Người khuyết tật có nhà ở, có thể tự di chuyển trong nhà, quanh nhà, trong làng xóm.
– Trẻ khuyết tật được bú sữa mẹ, người lớn được ăn uống như người bình thường trong
gia đình.
– Người khuyết tật được hướng nghiệp hoặc hướng dẫn tham gia lao động sản xuất.
– Người khuyết tật được vui chơi với những người khác và tham gia các hoạt động sinh
hoạt của cộng đồng.
– Người khuyết tật được hưởng các dịch vụ về chăm sóc sức khoẻ, vui chơi giả trí, hoạt
động thể thao
KẾT LUẬN
PHCNDVCĐ là một thành tựu mới đã được TCYTTG và nhiều tổ chức liên quan
của Liên Hợp Quốc thử nghiệm từ năm 1979 đến 1982 xác định là thích hợp, có hiệu quả
và có thể thực hiện được ở các nước đang phát triển. Hiện nay đã có gần 60 nước thực
hiện chương trình này. Ở Việt Nam, chương trình PHCNDVCĐ được triển khai từ năm
1978 tại tỉnh Tiền Giang và đến nay đã được triển khai ở rất nhiều địa phương trên cả
nước và đã thu được những kết quả tốt.
25
BÀI 1 : QUÁ TRÌNH TÀN TẬT VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA.CÁC THƯƠNG TẬT THỨ PHÁT THƯỜNG GẶPVÀ CÁCH PHÒNG NGỪAMục tiêu học tậpSau khi học xong bài này, học viên có năng lực : 1. Trình bày được nguyên do tàn tật và phân loại tàn tật2. Trình bày được định nhĩa về khiếm khuyết, giảm năng lực, tàn tật và cho ví dụ. 3. Nêu được những giải pháp phòng ngừa tàn tật. 4. Nêu được những thương tật thứ phát thường gặp cách phòng ngừa. 1. Tình hình tàn tật trên quốc tế và ở Việt Nam1. 1. Tình hình tàn tật trên quốc tế và ở Việt NamTheo ước tính của Tổ chức Y tế quốc tế, số người tàn tật chiếm khoảng chừng 7-10 % dấnsố trái đất ( khoảng chừng 600 triệu người ). Ở Việt nam, theo số liệu của Bộ Lao động – Thương binh – Xã hội có gần 5 triệungười khuyết tật, chiếm khoảng chừng 5 – 7 % dân số. Trong số đó có gần 1,5 triệu người là tàntật nặng, cần được Nhà nước và xã hội giúp sức. Các chuyên viên của Tổ chức Y tế Thế giới nhận định và đánh giá rằng, số lượng người tàn tậtkhông dừng lại ở số lượng trên mà còn ngày càng tăng nhanh gọn theo tỷ suất với sự ngày càng tăng dânsố theo cấp số nhân. 1.2. Chính sách của Nhà nước CHXHCN Nước Ta so với người tàn tậtTuyên ngôn quốc tế về quyền con người của Đại hội đồng Liên hợp quốc mà ViệtNam là một thành viên đã thừa nhận ” Phẩm giá vốn có và những quyền bình đẳng bất di bấtdịch của những thành viên trong mái ấm gia đình loài người là nền tảng của tự do, công lý và hòabình trên quốc tế “. Người khuyết tật cũng là một thành viên trong mái ấm gia đình ấy. Nhà nước Nước Ta từ lâu đã chứng minh và khẳng định Người tàn tật là đối tượng người dùng được quantâm trong mạng lưới hệ thống chính sách xã hội. Quan điểm đồng nhất đó đã được bộc lộ trong cácđiều khoản pháp luật việc trợ giúp, bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ bình đẳng cho Người tàn tật củaHiến pháp Nước Ta năm 1959, 1980 và 1992, Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 vàLuật người khuyết tật đã được Quốc hội trải qua ngày 17 tháng 6 năm 2010 và có hiệulực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011. Luật người khuyết tật chứng minh và khẳng định : Bảo vệ, chăm nom và tạo điều kiện kèm theo cho người tàntật hòa nhập cộng cộng là hoạt động giải trí có ý nghĩa kinh tế tài chính, chính trị, xã hội và nhân văn sâusắc, là truyền thống lịch sử tốt đẹp của dân tộc bản địa ta. 2. Quá trình tàn tậtTàn tật là hậu quả của quy trình bệnh lý, khiếm khuyết và giảm năng lực gây ra. 2.1. Quá trình gây bệnhKhi một tác nhân ( vật lý, hóa học, sinh học, di truyền ) ảnh hưởng tác động vào con người làmthay đổi sinh lý, sinh hóa của khung hình gọi là quy trình bệnh lý. Quá trình này hoàn toàn có thể đượcđiều chỉnh và dừng lại không gây nên bệnh ( khung hình đủ sức đề kháng và kiểm soát và điều chỉnh tốt ) hoặc hoàn toàn có thể diễn biến nặng gây nên bệnh. Bệnh là do quy trình bệnh lý ảnh hưởng tác động vào tế bào, cơ quan, mạng lưới hệ thống, khung hình, ảnhhưởng đến chức năng đơn cử của cơ quan, mạng lưới hệ thống khung hình của người bệnh, có khi ảnhhưởng nghiêm trọng đến năng lực sống sót của người bệnh. Yếu tố gây bệnhKhỏi trọn vẹn, không để lại di chứngBệnh Tử vongKhỏi nhưng để lại di chứng2. 2. Quá trình tàn tậtDi chứng của bệnh hoàn toàn có thể là khiếm khuyết, giảm năng lực và tàn tật. Tổ chức Y tếThế giới đã đưa ra những định nghĩa về chúng như sau : 2.2.1. Khiếm khuyết : là sự mất mát, thiếu vắng hoặc không bình thường về cấu trúc giải phẫu, tâmlý, sinh lý hoặc chức năng do bệnh hoặc những nguyên do khác gây nên. Phần lớn những bệnh thường để lại một vài khiếm khuyết vĩnh viễn hoặc thoáng qua. Ví dụ : Người nông dân 25 tuổi bị cụt 1 chân do tai nạn đáng tiếc giao thông vận tải. Cụt chân  Bất thường về giải phẫu. 2.2.2. Giảm năng lực : là bất kể sự hạn chế hay mất năng lực triển khai một hoạt độnggây nên bởi khiếm khuyết. Ví dụ : Do cụt chân nên người người trẻ tuổi nói trên đi lại, chạy nhãy khó khăn vất vả, khôngnhư người thông thường  giảm năng lực đi lại, chạy nhãy. 2.2.3. Tàn tật : là thực trạng người bệnh do bị khiếm khuyết, giảm năng lực nên khôngthực hiện được vai trò của mình trong xã hội mà người cùng tuổi, cùng giới, cùng hoàncảnh và cùng việc làm lại triển khai được. Ví dụ : Người nông dân 25 tuổi bị cụt 1 chân do tai nạn đáng tiếc giao thông vận tải nói trên : Cụt chân ( khiếm khuyết )  Khó khăn khi đi lại, chạy nhãy ( giảm năng lực )  không làm ruộngđược, không tự nuôi sống bản thân, sống dựa vào mái ấm gia đình, không triển khai được vai tròcủa người này trong mái ấm gia đình và hội đồng ( tàn tật ). Như vậy, khiếm khuyết là mức độ khuyết tật nhẹ nhất gây tổn thương ở mức độ cơquan hoặc mô ; giảm năng lực là mức độ khuyết tật nặng hơn, tác động ảnh hưởng đến hàng loạt cơthể của người bệnh ; tàn tật là mức độ khuyết tật nặng nhất, gây cản trở cho người bệnh ởmức độ xã hội. Do đó người khuyết tật rất khó khăn vất vả trong việc hội nhập xã hội và tự kiếmsống nên họ sống chịu ràng buộc một phần hoặc trọn vẹn vào người khác. ĐN CỦA TCYTTG MỨC ĐỘTàn tật Xã hộiGiảm năng lực Toàn bộ cơ thểKhiếm khuyết Cơ quan hoặc mô2. 3. Nguyên nhân của tàn tật : Có 4 nhóm nguyên do đa phần gây ra tàn tật : – Những nguyên do trực tiếp do bệnh, tuổi cao, tai nạn đáng tiếc, dị tật bẩm sinh – Thái độ xô lệch của xã hội so với người khuyết tật : người khuyết tật thường bị xã hộicoi thường, xa lánh, không gật đầu như thể một thành viên bình đẳng trong hội đồng. – Điều kiện sống và môi trường tự nhiên xung quanh ( thiên nhiên và môi trường thao tác, học tập, đi lại ) không tương thích với thực trạng thương tật của người khuyết tật nên họ không có điều kiệnvà thời cơ hội nhập xã hội. – Do những dịch vụ phục hồi chức năng kém tăng trưởng. Ba nguyên do sau dù không phải là nguyên do trực tiếp gây nên thương tật, nhưng lại là những nguyên do chính cản trở người khuyết tật hòa nhập xã hội và tìmkiếm công ăn việc làm. 2.4. Hậu quả của tàn tậtTình trạng người tàn tật gây nên những hậu quả rất nặng nề cho bản thân người tàntật, cho mái ấm gia đình và xã hội. 2.4.1. Đối với bản thân người tàn tật : – Tỷ lệ mắc bệnh và tử trận ở trẻ tàn tật cao hơn rất nhiều so với trẻ thông thường. – 90 % trẻ tàn tật chết trước tuổi 20. – Người tàn tật thường bị thất học, không có việc làm, sống dựa vào người khác. – Người tàn tật mất năng lực độc lập, bị phục thuộc vào người khác. – Người tàn tật không có vị trí trong mái ấm gia đình và hội đồng, bị mái ấm gia đình coi thường, xã hộidèm pha, xa lánh, đối xử bất bình đẳng. 2.3.2. Đối với mái ấm gia đình : – Người tàn tật là gánh nặng cho mái ấm gia đình về tâm ý, kinh tế tài chính, thời hạn và công sức của con người. – Gia đình người tàn tật thường bị hội đồng dèm pha, xa lánh vì họ cho rằng đó là sựtrừng phạt của Chúa, Trời hay Phật. 2.3.3. Đối với xã hội : người tàn tật thường là gánh nặng của hội đồng. 2.5. Phân loại tàn tậtĐể nhận ra, dễ phát hiện, dễ phân loại về tàn tật và tránh thái độ phân biệt, coithường người tàn tật, đồng thời tạo cho người tàn tật dễ đồng ý thực trạng thương tậtcủa mình, Tổ chức Y Tế Thế giới đã phân tàn tật thành 7 nhóm như sau : – Khó khăn về hoạt động – Khó khăn về nhìn – Khó khăn về nghe nói – Khó khăn về học – Hành vi lạ lẫm ( tinh thần ) – Mất cảm xúc ( bệnh phong ) – Động kinh. 3. Các giải pháp phòng ngừa tàn tậtPhòng ngừa tàn tật là trách nhiệm quan trọng của mọi thành viên trong hội đồng, đặc biệt quan trọng là cán bộ y tế. Nói chung hầu hết những loại tàn tật đều hoàn toàn có thể phòng ngừa hoặcgiảm nhẹ được bằng những giải pháp khác nhau với sự tham gia của cả hội đồng. Diễn biến từ bệnh và những nguyên do gây bệnhBệnhPhòng ngừa bước IKhiếm khuyếtPhòng ngừa bước IIGiảm khả năngPhòng ngừa bước IIITàn tật3. 1. Phòng ngừa bước IBao gồm những giải pháp ngăn ngừa không để xẩy ra khiếm khuyết : – Phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời, đặc biệt quan trọng là những bệnh nhiễm trùng. – Chăm sóc, dinh dưỡng tốt trong quy trình điều trị, phối hợp tập luyện phục hồi nhằmphòng tránh những thương tật thứ phát. – Phòng ngừa tai nạn đáng tiếc ( hoạt động và sinh hoạt, giao thông vận tải, lao động ), chống đấm đá bạo lực, cuộc chiến tranh. – Tư vấn sức khỏe thể chất sinh sản, chăm nom, theo dõi mẹ và thai nhi trong suốt quy trình mangthai. 3.2. Phòng ngừa bước IIBao gồm những giải pháp để ngăn ngừa thực trạng khiếm khuyết không cho trở thànhgiảm năng lực : – Phát hiện sớm khiếm khuyết, can thiệp y học, PHCN để giảm hoặc khắc phục khiếmkhuyết. – Cung cấp chân tay giả, dụng cụ chỉnh hình, dụng cụ trợ giúp cho người khiếm khuyết. – Cải tạo thiên nhiên và môi trường sống và thao tác cho tương thích khuyết tật. 3.3. Phòng ngừa bước IIIBao gồm những giải pháp để ngăn ngừa giảm năng lực trở thành tàn tật và gây nênhậu quả của tàn tật. Đó là : – Giáo dục đào tạo hòa nhập, tạo điều kiện kèm theo cho trẻ được học tập, đi dạo như trẻ cùng trang lứa ( với trẻ bị khiếm khuyết nhẹ ). – Giáo dục đào tạo chuyên biệt cho trẻ bị khiếm khuyết nặng ( bị mù, bị điếc câm ). – Dạy nghề, tạo công ăn việc làm, đi dạo, vui chơi, tham gia hoạt động giải trí hội đồng chongười lớn khuyết tật. – Cung cấp dịch vụ chăm nom tại nhà hoặc TT điều dưỡng cho những đối tượng người tiêu dùng khiếmkhuyết nặng. – Cải tạo môi trường tự nhiên sống và thao tác cho tương thích khuyết tật. – Thay đổi thái độ của mái ấm gia đình, xã hội so với người khuyết tật – Có chính sách, chủ trương tương hỗ hài hòa và hợp lý cho người khuyết tật. II. CÁC THƯƠNG TẬT THỨ PHÁT THƯỜNG GẶP VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪANhững thương tật xảy ra do hậu quả trực tiếp của bệnh, chấn thương hay rối loạnbẩm sinh gọi là bệnh hay thương tật tiên phong. Những tổn thương xảy ra do bất động gọi làthương tật thứ phát. 1. Nguyên nhân – Cưỡng bức nghỉ ngơi trên giường trong một thời hạn dài do bệnh hay dưỡng bệnh. – Bất động do nhu yếu điều trị ( máng, nẹp, bột ). – Rối loạn tinh thần đưa tới bất động. – Liệt. – Cứng khớp. – Đau. – Mất cảm xúc. 2. Hậu quả2. 1. Biến chứng so với hệ tim mạch : – Hạ huyết áp tư thế đứng : là do thực trạng giãn những mạch máu ở bụng và hai chi dướikhiến hầu hết thể tích máu tụ ở những vùng thấp khi bệnh nhân đứng. Bình thường, cácmạch máu có năng lực co phản xạ, nhưng năng lực này đã bị mất do bất động lâu ngày. Tình trạng này hoàn toàn có thể làm người bệnh ngất xỉu vì thiếu máu não, hoàn toàn có thể gây tổn thươngnão và chết bất thần. – Giảm hoạt động giải trí của tim. – Viêm tắc mạch máu : thiếu hoạt động hai chi dưới hoàn toàn có thể dẫn tới huyết khối tĩnh mạch. Tình trạng này hoàn toàn có thể gây tắc mạch phổi và tử trận. 2.2. Biến chứng so với hệ hô hấp : – Giảm thông khí : giảm thể tích sống, thể tích khí / phút, dung tích thở tối đa do tư thế nằmlâu. – Thở không sâu, thở nông. – Giảm thông khí cơ học phần phổi do xung huyết thứ phát và viêm phổí ứ đọng. – Giảm năng lực ho và hoạt động giải trí của lông nhu. – Nhiễm trùng hô hấp tăng. – Tần số tắc động mạch phổi tăng sau một thời hạn nằm lâu. Sự thanh thải dịch từ cây phế quản giảm gây năng lực xẹp phổi hoặc viêm phổi ứ đọng. 2.3. Biến chứng hệ cơ xương : yếu cơ, teo cơ, co rút, loãng xương do ít hoạt động giải trí. – Yếu cơ, teo cơKhi cơ không hoạt động giải trí do bất động trong một thời hạn nào đó, cơ sẽ bị yếu, mấttính dẽo dai và teo nhỏ. Sự suy yếu này sẽ làm cho người bệnh không hoạt động giải trí và cơ sẽyếu và teo nhỏ thêm. Diễn tiến này tạo thành một vòng luẩn quẩn và càng đa người bệnhđến suy thoái và khủng hoảng về sức khỏe thể chất và niềm tin. – Co rút khớpLà thực trạng số lượng giới hạn tầm hoạt động giải trí của khớp do sự co rút của những mô mềm quanhkhớp. Do bất động, khớp không cử động nên không có sự kéo dãn những mô collagen củabao khớp và / hoặc cơ nên dẫn đến hậu quả này. – Loãng xươngDo bất động nên sức kéo của cơ lên xương bị hạn chế và do không chịu trọng lựcdẫn đến việc xương mất calxi. Tình trạng loãng xương dẫn đến hậu quả như đau, dễ gãyxương, tạo sởi đường tiết niệu. 2.4. Biến chứng hệ thần kinh : – Nằm lâu gây giảm cảm xúc – Nằm lâu làm cho ý thức lú lẫn, thiếu xu thế, giảm chức năng trí tuệ. – Nằm lâu tạo nên mất tính tích cực hoạt động, mất tính không thay đổi, tâm ý lo âu, buồn chán. 2.5. Biến chứng hệ tiêu hóa : – Mất ngon miệng. – Giảm hấp thu chất dinh dưỡng. – Giảm nhu động ruột, táo bón. 2.6. Biến chứng hệ tiết niệu : Sỏi thận, tiểu dầm, nhiễm trùng đường tiểu. – Sỏi thận : Do tăng bài tiết calxi do xương bị mất chất khoáng. – Nhiễm trùng : Do ứ đọng nước tiểu, vì ít biến hóa tư thế hoặc do nhiễm trùng đường tiểu. – Tiểu dầm. 2.7. Biến chứng da : loét do đè épDo nằm đè ép quá mức và lê dài dẫn tới hậu quả hoại tử da và tổ chức triển khai dưới da do thiếumáu tại chỗ. Các ổ lóet này thường gặp ở những nơi xương nhô chỉ có một lớp da mỏngbao bọc. Những vị trí thường bị ép do đè ép là : Vùng xương cùng, vùng mấu chuyển lớn, vùng ụ ngồi, vùng xương gót chân, vùng mắt cá ngoài. 3. Cách phòng ngừaCác thương tật thứ phát do bất động hoàn toàn có thể ngăn ngừa rất hữu hiệu với những phươngpháp sau : – Cung cấp đủ chất dinh dưỡng giàu chất đạm, vitamine. – Chăm sóc, vệ sinh da tốt, tiếp tục biến hóa tư thế người bệnh. – Tập dữ thế chủ động những cử động, những bài tập. – Tập thụ động để duy trì tầm hoạt động giải trí của khớp ( nếu người bệnh không tự tập được ). Tóm lại, phòng những thương tật thứ phát hoàn toàn có thể phòng ngừa được và thuận tiện hơn làphải đương đầu với chúng khi chúng đã xẩy ra. BÀI 2 : KHÁI NIỆM VỀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG, VAI TRÒ CỦANGƯỜI ĐIỀU DƯỠNG TRONG PHỤC HỒI CHỨC NĂNGMục tiêu học tậpSau khi học xong bài này, học viên có năng lực : 1. Trình bày được định nghĩa, mục tiêu, nguyên tắc của phục hồi chức năng và cácphương pháp phục hồi chức năng. 2. Nêu được vai trò, đặc thù và trách nhiệm của điều dưỡng viên trong phục hồi chứcnăng cho người bệnh. 1. Phục hồi chức năng1. 1. Vai trò của phục hồi chức năng ( PHCN ) trong mạng lưới hệ thống chăm nom sức khỏeSức khỏe là trạng thái trọn vẹn tự do về sức khỏe thể chất, niềm tin và xã hội, chứkhông chỉ bó hẹp là thực trạng thiếu vắng bệnh tật. Trước đây, ngành y tế chỉ mới chú trọng vào 2 nghành nghề dịch vụ phòng bệnh và chữa bệnhmà chưa chăm sóc đúng mức đến nghành nghề dịch vụ PHCN. Nhiều thầy thuốc chỉ chăm sóc đếnviệc cứu sống người bệnh, còn việc sau này họ sẽ sống thế nào thì không hề chú ý tới. Trong những năm gần đây, người ta thường nói đến một ngành mới đang phát triểnkhá can đảm và mạnh mẽ – đó là ngành PHCN hay còn gọi là bước thứ 3 của y học. Bước thứ 3 khôngcó nghĩa là đi sau 2 bước kia, mà về phạm trù y học tân tiến, cả 3 bước cơ bản là phòngbệnh, chữa bệnh và PHCN phải được lồng ghép ngặt nghèo, song song với nhau. Phục hồi chức năng là một ngành được kiến thiết xây dựng trên cơ sở y học tân tiến. Trảiqua nhiều năm điều tra và nghiên cứu, ứng dụng và tăng trưởng, ngành Phục hồi chức năng đã chứngminh vai trò của mình trong y học là không chỉ góp thêm phần cộng thêm năm tháng để kéo dàiđời người mà còn góp phần tích cực vào việc cộng thêm đời sống sinh động cho nămtháng. Rất nhiều người khuyết tật đã được phục hồi và tái hội nhập trở lại đời sống. 1.2. Định nghĩaPhục hồi là một từ kép gồm có 2 từ gần đồng nghĩa tương quan, PHỤC là trở lại, trở lại, HỒIlà trả lại, trở lại. Như vậy, theo một nghĩa hẹp đơn cử thì từ phục hồi được vận dụng chongười bệnh, có nghĩa là trả lại cho họ chức năng đã bị mất do hậu quả của bệnh hay chấnthương. Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra một định nghĩa vừa đủ về PHCN như sau : PHCNbao gồm những giải pháp y học, kinh tế tài chính, xã hội, giáo dục hướng nghiệp và kỹ thuật phục hồinhằm làm giảm ảnh hưởng tác động của giảm năng lực và tàn tật, bảo vệ cho người tàn tật hộinhập xã hội, có những thời cơ bình đẵng và tham gia rất đầy đủ những hoạt động giải trí của xã hội. Phục hồi chức năng không riêng gì đào tạo và giảng dạy người tàn tật thích nghi với môi trườngsống mà còn ảnh hưởng tác động vào môi trường tự nhiên và xã hội tạo nên khối thống nhất cho quy trình hộinhập của người tàn tật. Phục hồi chức năng là trả lại những chức năng bị giảm hoặc bị mất cho người tàn tậthoặc là giúp họ xử trí tốt hơn với thực trạng tàn tật của mình khi ở nhà hoặc ở hội đồng. 1.3. Mục đích của phục hồi chức năng – Hoàn trả lại một cách tối đa những chức năng đã bị giảm hoặc bị mất cho người bệnh, tăngcường năng lực còn lại của họ để giảm hậu quả của tàn tật. – Tác động làm đổi khác tích cực tâm lý, thái độ của xã hội, tạo nên sự gật đầu của xãhội so với người tàn tật, coi họ như một thành viên bình đẳng trong hội đồng. – Tác động làm cải tổ những điều kiện kèm theo nhà tại, nơi thao tác, nơi công cộng, cầu và cống, đường xá, trường học. để người tàn tật hoàn toàn có thể tham gia lao động sản xuất, học tập vàđến được những nơi mà họ cần đến để tham gia những hoạt động và sinh hoạt xã hội ( chuyển từ biện phápđơn thuần y học sang giải pháp xã hội ). – Tạo việc học tập đi dạo và việc làm làm ăn cho người khuyết tật, lôi kéo bản thânngười khuyết tật, mái ấm gia đình và hội đồng tham gia vào quy trình phục hồi. – Làm cho người khuyết tật thích ứng tối đa với thực trạng của họ, làm cho xã hội ý thứcđược nghĩa vụ và trách nhiệm của mình để người khuyết tật có đời sống độc lập ở mái ấm gia đình và cộngđồng. Nói ngắn hơn, PHCN là một chiêu thức phát minh sáng tạo cả về khoa học lẫn nghệ thuật và thẩm mỹ, giúp người bệnh tiến triển và tận dụng tối đa hoàn toàn có thể được những năng lực còn lại về thểchất, ý thức, kinh tế tài chính, xã hội để tự giúp mình trở thành người có ích, gia nhập trở lạicộng đồng, nghĩa là biến những người tàn tật trở thành những người TÀN mà KHÔNGPHẾ. 1.4. Những nguyên tắc của phục hồi chức năng – Đánh giá cao vai trò của người khuytết tật, mái ấm gia đình họ và hội đồng trong chương trìnhphục hồi chức năng. – Đánh giá đúng thực trạng khuyết tật và sức khỏe thể chất của người bệnh để có chỉ định tậpluyện phục hồi đúng lúc, đúng mức tương thích với từng người bệnh để có hiệu quả phục hồitốt nhất. – Phục hồi sớm, song song với quy trình điều trị để giúp người bệnh chóng phục hồi sứckhỏe, tránh được những thương tật thứ cấp và rút ngắn thời hạn điều trị cũng như phục hồi ởgiai đoạn sau. – Phải luôn luôn khiến người bệnh hoạt động giải trí vì hoạt động giải trí đem lại sức khỏe thể chất, trái lại, bấtđộng làm khung hình suy yếu. Điều quan trọng nhất là không khi nào giúp sức người bệnh khi người đó hoàn toàn có thể tựgiúp lấy mình, vì khi tất cả chúng ta làm thay mọi việc làm cho người bệnh thì người bệnh sẽmất tự tin, tính độc lập và luôn ỷ vào người khác. Như vậy người bệnh không tích cựchoạt động và sẽ làm chậm quy trình phục hồi. Vì quyền lợi của người bệnh, vì tôn trọngngười bệnh, tất cả chúng ta có bổn phận và có quyền nhu yếu họ phải phấn đấu nhiều hơn trongmức độ sức khỏe thể chất được cho phép. 1.5. Khái niệm nhóm phục hồi chức năngPhục hồi chức năng cho người khuyết tật và giúp họ trở lại với đời sống lao động, học tập là một yếu tố rất lớn, yên cầu phải có sự tham gia của nhiều chuyên khoa, nhiềungành. Các thành viên tham gia vào việc chăm nom, phụ hồi cho người khuyết tật được tậphợp lại trong nhóm gọi là nhóm phục hồi. Nhóm phụ hồi gồm có : – Bác sỹ chuyên khoa phục hồi chức năng : chịu nghĩa vụ và trách nhiệm chung về hoạt động giải trí chuyênmôn của nhóm. – Điều dưỡng viên : chịu nghĩa vụ và trách nhiệm về chăm nom điều dưỡng phục hồi chức năng. – Kỹ thuật viên vật lý trị liệu : chịu nghĩa vụ và trách nhiệm về tập luyện hoạt động chung và đi lại củangười bệnh. – Kỹ thuật viên hoạt động giải trí trị liệu : chịu nghĩa vụ và trách nhiệm giảng dạy người khuyết tật việc tựchăm sóc bản thân và triển khai những hoạt động giải trí trong đời sống, hoạt động và sinh hoạt hàng ngày, giúp10bệnh nhân tái thích nghi với môi trường tự nhiên sống ở mái ấm gia đình và hội đồng sau khi bị bệnh. – Kỹ thuật viên ngôn từ trị liệu : giúp bệnh nhân có rối loạn về ngôn từ cách giao tiếpvới mọi người. – Kỹ thuật viên chỉnh hình : phân phối dụng cụ chỉnh hình và dụng cụ trợ giúp tương thích vớinhu cầu của người khuyết tật. – Chuyên gia tâm ý : giúp người khuyết tật thích nghi về mặt ý thức sau khi bị bệnh vàcác di chứng còn lại. – Bác sỹ chuyên khoa : chấn thương chỉnh hình, thần kinh, tim mạch … – Cán bộ xã hôị : giúp người khuyết tật về nhà tại, công việc làm, hội nhập hoặc tái hội xãhội. – Cán bộ giáo dục : giúp việc học tập cho người khuyết tật. – Bản thân người khuyết tật và mái ấm gia đình họ – là thành viên không hề thiếu trong nhómphục hồi. Ngày nay ở những nước tiên tiến và phát triển, người ta chuyên khoa hóa tổng thể những thành viêntrong nhóm phục hồi, ví dụ nhóm phục hồi chuyên cho bệnh nhân bị tai biến mạch máunão, chuyên cho bại não, chuyên cho tổn thương tủy sống … với những kỹ thuật chuyênbiệt., 1.6. Các hình thức phục hồi chức năngTrên quốc tế, có 3 hình thức PHCN : – PHCN dựa vào viện, những TT phục hồi chức năngHình thức này được tiến hành từ trước đến nay ở nhiều nước trên quốc tế. + Ưu điểm : Kết quả phục hồi nhanh hơn và phục hồi được cho nhiều trường hợp bệnhkhó nhờ có đội ngũ cán bộ có trình độ kỹ thuật cao và có nhiều trang thiết bị văn minh. + Nhược điểm : Bất tiện cho những bệnh nhân ở xa, chỉ xử lý cho được 1 số ít ítngười và ngân sách cao. – PHCN ngoại việnCán bộ chuyên khoa của những viện, những TT xuống những địa phương trực tiếp tậpluyện, phục hồi cho người bệnh. + Ưu điểm : Các cán bộ chuyên khoa trực tiếp tập luyện nên sự tân tiến có nhanh hơn, sốngười tàn tật được tập luyện có nhiều hơn hình thức trên. + Nhược điểm : giá thành cao, không đủ cán bộ và số người tàn tật được tập luyện cũngkhông được nhiều. – PHCN dựa vào cộng đồngNgười tàn tật được tập luyện phục hồi ngay tại cộng đồng bằng thân nhân người tàntật và hội đồng. Thực chất của hình thức này là xã hội hóa công tác làm việc PHCN. 1.7. Các chiêu thức phục hồi chức năng – Vật lý trị liệu ( sẽ có bài riêng ) – Hoạt động trị liệuHoạt động trị liệu ( HĐTL ) là sử dụng những hoạt động giải trí tự chăm nom, việc làm và tròchơi trong điều trị nhằm mục đích ngày càng tăng sự độc lập chức năng, tăng cường sự tăng trưởng và ngănngừa tàn tật. HĐTL hoàn toàn có thể gồm có sự thích ứng với việc làm hay thiên nhiên và môi trường để đạtđược sự độc lập tối đa và nâng cao chất lượng đời sống. – Ngôn ngữ trị liệuTập nói hoặc học cách sử dụng những loại ngôn từ tiếp xúc khác ( viết, động tácbằng tay ( thủ ngữ ), mắt ). 11 – Giáo dục đào tạo đặc biệtNgười khuyết tật ( đa phần là trẻ khuyết tật ) được học ở những trường / lớp với sự giáodục đặc biệt quan trọng của những giáo viên chuyên nghiệp : trường / lớp cho người mù với chữ nổi, cho người điếc câm với thủ ngữ – Cung cấp chân tay giả, dụng cụ chỉnh hình và dụng cụ trợ giúp : + Chân tay giả. + Dụng cụ chỉnh hình : nẹp chỉnh hình những loại ( nẹp hông, nẹp đùi, nẹp gối-cổ chân, nẹpcổ chân ), máng chỉnh hình, giày chỉnh hình + Dụng cụ trợ giúp : xe lăn, khung tập đi, những loại vật dụng có tay cầm đặc biệt quan trọng, ghế ngồiđặc biệt tạo điều kiện kèm theo cho người khuyết tật hoàn toàn có thể chuyển dời và triển khai những hoạt độngsinh hoạt hàng ngày. – Dạy nghề và hướng nghiệpDạy lại cho người bệnh những kỹ năng và kiến thức triển khai nghề cũ hoặc học một nghề mới thích ứngvới thực trạng thương tật, sức khỏe thể chất và năng lực của họ. 2. Vai trò của người điều dưỡng trong phục hồi chức năng2. 1. Khái niệm về điều dưỡng và điều dưỡng phục hồiĐã có những định nghĩa khác nhau về từ ” Điều dưỡng “, nhưng nói một cách kháiquát thì trách nhiệm của người điều dưỡng là trợ giúp người bệnh trong việc hoàn tất cáchoạt động, phục hồi sức khỏe thể chất. Công việc điều dưỡng được thực thi theo chiều hướnggiúp cho người bệnh tự làm lấy mọi việc làm trong năng lực về sức khỏe thể chất và ý thức chophép-có nghĩa là giúp người bệnh ấy có năng lực hoạt động và sinh hoạt độc lập tối đa càng nhiều càngtốt. Chỉ trừ những dạng đặc biệt quan trọng khó khăn vất vả yên cầu phải có những kiến thức và kỹ năng và kỹ thuậtđặc biệt về chuyên ngành phục hồi, người điều dưỡng hoàn toàn có thể làm và dạy cho người bệnhthực hiện những điều tương quan mật thiết tới công tác làm việc phục hồi. Tuy đó hoàn toàn có thể là nhữngđộng tác phục hồi rất đơn thuần nhưng lại vô cùng thiết yếu, ví dụ như những hoạt động giải trí sinhhoạt hàng ngày như mặc và cởi áo quần, chuyển dời từ giường qua xe lăn, từ xe lăn tới nhàvệ sinh, bồn tắm, chải đầu, đánh răng, cạo râu, trang điểm Người bệnh chỉ hoàn toàn có thể đượcxem là có năng lực hoạt động và sinh hoạt độc lập khi chính họ tự làm được những việc làm nhỏ nhặttrong hoạt động và sinh hoạt hàng ngày – những điều vô cùng thiết yếu của đời sống. 2.2. Vai trò của người điều dưỡng trong PHCNPhục hồi chức năng cho người khuyết tật do nhóm phục hồi thực thi. Điều dưỡngviên là một thành viên không hề thiếu của nhóm. Điều dưỡng phục hồi là một khái niệmmở rộng về điều dưỡng. Người điều dưỡng phải tiếp đón một lúc 4 vai trò : – Trực tiếp làm công tác làm việc điều dưỡng trên giường bệnh. – Phối hợp mọi nhu yếu chăm nom y tế cho người bệnh của những thành viên trong nhómphục hồi. – Giáo dục đào tạo hướng dẫn về cho người bệnh và thân nhân họ cách chăm nom và tự chăm sócbản thân. – Là người tạo sự liên lạc giữa những thành viên trong Toán phục hồi. 122.3. Nhiệm vụ của điều dưỡng viên-Trao đổi thông tin, cộng tác và phối hợp ngặt nghèo với những thành viên trong nhóm phụchồi. – Tạo ra thiên nhiên và môi trường thật sạch, bảo đảm an toàn và không khí tự do, thoải mái và dễ chịu nhằm mục đích cải tổ sứckhỏe cho người bệnh. – Đề phòng biến chứng và những thương tật thứ cấp do bất động lâu ngàyđối với hệ timmạch, hệ hô hấp, hệ hoạt động ( yếu cơ, cứng khớp ), hệ tiêu hóa, hệ tiết niệu-sinh dục, loétdo đè ép, nhiễm trùng … – Giúp đỡ, động viên người bệnh về mặt ý thức và tâm ý để xua tan nổi sợ hãi, lo âu, tuyệt vọng do thương tật để lại, gan góc đương đầu với thương tật hiện có, giúp họ lấy lạithăng bằng, lòng tự trọng, tính độc lập và niềm tin vào đời sống. – Giúp người bệnh tận dụng, duy trì và phát huy năng lực còn lại một cách tối đa. – Giáo dục đào tạo, bệnh nhân và người nhà của họ tổng thể mọi yếu tố chăm nom và tự chăm sóccho bản thân. – Giải thích cho người nhà và hội đồng hiểu và thông cảm với thực trạng của ngườikhuyết tật. 2.4. Những nhu yếu cần có của ngươì điều dưỡngĐể giúp bệnh nhân đạt được tiềm năng của điều trị và phục hồi, người điều dưỡngcần : – Có kiến thức và kỹ năng trình độ, có niềm tin nghĩa vụ và trách nhiệm, nhạy cảm so với những nhu yếu, tình cảm và thực trạng của người bệnh cũng như đậm chất ngầu của họ. – Có ý thức phát minh sáng tạo, linh động, cứng rắn và tự tin. – Kiểm tra thaí độ của người bệnh so với sự giảm năng lực của họ. Nếu phát hiện thấy ởhọ Open thái độ không tích cực thì cần phải tương hỗ, giúp họ lấy lại lòng tin, lòng tựtrọng để cạnh tranh đối đầu với trong thực tiễn và tích cực tham gia vào chương trình tập luyện phục hồi. KẾT LUẬNChăm sóc điều dưỡng là một bộ phận rất quan trọng trong việc điều trị và phục hồichức năng cho người bệnh. Chất lượng của điều trị và phục hồi nhờ vào rất lớn vàocông tác điều dưỡng, do đó điều dưỡng viên không chỉ là người tinh thạo về chuyên mônmà còn là người có tình thương thật sự và nghĩa vụ và trách nhiệm lớn lao so với người bệnh và làmột thành viên không hề thiếu trong nhóm phục hồi. BÀI 3 : MỘT SÔ PHƯƠNG THỨC VẬT LÝ TRỊ LIỆU THƯỜNG DÙNG13Mục tiêu học tậpSau khi học xong bài này, học viên có năng lực : 1. Mô tả được thực chất, công dụng sinh học, chỉ định chống chỉ định của những phương phápvật lý trị liệu thường dùng : nhiệt nóng, lạnh, thủy trị liệu, điện và ánh sáng trị liệu. 2. Trình bày được những khái niệm cơ bản, mục tiêu của hoạt động trị liệu. I. ĐẠI CƯƠNGVật lý trị liệu là sử dụng những tác nhân vật lý ( có sẵn trong tự nhiên hoặc tự tạo ) để điều trị. Về thực chất chúng gồm có : – Nhiệt trị liệu ( nóng và lạnh ). – Ánh sáng trị liệu ( hồng ngoại, tử ngoại, laser ). – Điện trị liệu ( những dòng điện thấp tần, trung tần, cao tần ). – Vận động trị liệu, kéo giãn, kéo nắn, xoa bóp. – Hoạt động trị liệu. – Thủy trị liệu. II. NHIỆT TRỊ LIỆU1. Nhiệt nóng1. 1. Tác dụng sinh lý : Tác dụng sinh học so với mô của khung hình nhờ vào vào cường độ nóng được vận dụng ( khoảng chừng 40-45 C ), thời hạn vận dụng ( thường từ 15-30 phút ), phạm vị khung hình được sưởinóng, vận tốc được sưởi nóng. Nhiệt nóng có tính năng : – Giãn mạch tại chỗ hoặc body toàn thân ( trải qua tính năng tại chỗ và phản xạ ), tăng lưuthông máu. – Giảm đau, giảm phù nề, giảm viêm. – Tăng tính kéo giãn của những mô link. – Giảm hiện tượng kỳ lạ cứng khớp. – Tăng chuyển hóa. 1.2. Chỉ định điều trị : Nhiệt nóng được sử dụng trong nhiều loại bệnh, đặc biệt quan trọng là những bệnh thuộc hệ vậnđộng : giảm đau, co rút khớp, co cứng, co rút khớp, giảm tầm hoạt động, viêm bán cấp vàmạn tính. 1.3. Chống chỉ định và thận trọng : Viêm cấp, chấn thương mới, chảy máu mới hoặc rủi ro tiềm ẩn chảy máu, vùng da mấtcảm giác, mất nhận thức đau ( hôn mê, suy giảm trí tuệ ), u những loại, phù, những vết thươnghở. Thận trọng với người già, trẻ con. 1.4. Phân loại nhiệt nóng : Nhiệt nóng được phân làm 2 loại : nhiệt nóng nông và nhiệt nóng sâu. 1.4.1. Nhiệt nóng nông : – Là nhiệt có năng lực xuyên sâu qua da đến 2 cm. Bao gồm : túi chườm nóng, nước nóng, xông hơi, bó sáp, tia hồng ngoại, tử ngoại, laser. Áp dụng ở vùng được bao trùm bởi lớp tổchức link mỏng dính ( như bàn tay, bàn chân ) và hoàn toàn có thể tính năng sâu nhờ chính sách phản xạ. Nhiệt tác dụng tối đa ở da và tổ chức triển khai dưới da. 14 + Túi nóng ẩm : đó là những túi vải chứa silicats ngậm nước được nhúng vào nước cónhiệt độ 70 – 80C. Túi được bọc trong 6-8 lớp khăn và đắp vào vùng điều trị từ 20-30 phút. Ngoài ra, lúc bấy giờ trên thị trường cũng có túi điện có điều khiển và tinh chỉnh hoặc túi gel nóng. + Parafin : là hỗn hợp 1 phần dầu khoáng, 7 phần parafin được đun nóng đến 52-54 C.Dầu khoáng hạ thấp điểm nóng chảy của parafin và hỗn hợp đó với nhiệt độ 47-54 C.Parafin hoàn toàn có thể dử dụng bằng cách nhúng nhanh phần điều trị ( ngón, bàn, cẳng tay, khuỷutay ) vào parafin rồi rút ra, chờ cho parafin khô rồi nhúng lần tiếp theo. Nhúng 7-8 lần, sau dó bọc lại bằng nilon rồi bọc thêm khăn để giữ sức nóng ; hoặc đổ parafin ra khay chờcho đến khi tạo thành lớp váng trên mặt phẳng là hoàn toàn có thể đắp, bó vào vùng cần điều tri ( sống lưng, vai ) cho bệnh nhân được. + Tia hồng ngoại. Năng lượng hồng ngoại hoàn toàn có thể qua da và chuyển thành nhiệt cho điều trị nông. Hồngngoại được điều trị bằng cách chiếu vào phần mặt phẳng khung hình. Khoảng cách từ đèn đến bềmặt từ 45-60 cm. Thời gian chiếu từ 20-30 phút. 1.4.2. Nhiệt nóng sâu : Là nhiệt có năng lực xuyên sâu từ 3 cm đến 6 cm mà không làm tăng nhiệt độ da và tổchức dưới da. Nhiệt sâu dùng để điều trị những tổ chức triển khai ở sâu như khớp háng, khớp gối, cơvùng thắt lưng. Nhiệt được sinh ra nhờ chuyển nguồn năng lượng thành nhiệt, qua da vào sâucác tổ chức triển khai dây chằng, cơ, xương, bao khớp. Nhiệt sâu thường được sử dụng dưới cácdạng siêu âm, sóng ngắn và vi sóng. 2. Nhiệt lạnhLà giải pháp điều trị ở thiên nhiên và môi trường có nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ thông thường của cơthể được điều trị. 2.1. Tác dụng sinh lý : – Gây co mạch tại chỗ, hoàn toàn có thể lan rộng nhờ chính sách phản xạ. – Giảm chuyển hóa – Tăng ngưỡng kích thích thần kinh – Giảm dẫn truyền cảm giác, hoạt động thần kinh. – Giảm tính đàn hồi của tổ chức triển khai – Giảm phù nề, – Giảm trương lực cơ, giảm co cứng, co thắt cơ. 2.2. Chỉ định điều trị : – Giảm đau. – Giảm co rút, co giật. – Giảm viêm ( viêm cấp ), giảm phù nề ( sau chấn thương mới, bỏng ). 2.3. Chống chỉ định : – Viêm tắc động mtinx mạch. – Mẫn cảm với lạnh, đái máu, đái globulin khi gặp lạnh – Vùng da mất cảm xúc. – Vùng da vô mạch. – Tăng huyết áp nặng. – Thận trọng với người già, trẻ nhỏ. 2.4. Các hình thúc vận dụng : – Túi chờm lạnh : đặt trong tủ lạnh có nhiệt độ 5C, chờm trong 20-30 phút. – Xoa xát bằng đá lạnh : để điều trị tại chỗ, vùng hẹp. 15 – Khăn lạnh – Bể nước lạnh từ 13-18 C : nhúng những phần chi thể cần điều trị từ 20-30 phút. – Phun hơi lạnh : ethylchloride hoặc fluorimethane làm giảm co rút cơ. III. ĐIỆN TRỊ LIỆU1. Định nghĩaĐiện trị liệu là sử dụng nguồn năng lượng điện qua mặt phẳng khung hình để kích thích thần kinh, cơhoặc cả hai bằng cách sử dụng điện cực trên mặt phẳng. 2. Các dòng điện điều trịDo nhiều loại dòng điện được sử dụng và tính năng của chúng cũng khác nhau nênđiện trị liệu được chia ra : liệu pháp nhiệt và điện kích thích. – Điện nhiệt : những dòng điện có tần số trên 100.000 hz ( hz là số xung trong 1 giây ) tạonhiệt vùng mô cần điều trị, không gây kích thích thần kinh hoặc cơ. Đây là những dòng điệnco tần, gồm có sóng ngắn, sóng cực ngắn hoặc vi sóng ( đã trình diễn ở phân Nhiệt nóngsâu ). – Điện kích thích : gồm có những dòng điện có tần số dưới 100.000 hz. Các dòng điện nàygây kích thích hệ thần kinh và cơ dù với cường độ rất thấp. Các dòng điện kích thích đượcchia làm 2 loại : những dòng điện thấp tần ( tần số nhỏ hơn 1000 hz ), tạo được kích thích nhịplên thần kinh và cơ và những dòng điện trung tần ( tần số 1.000 đến 100.000 hz ), không tạođược kích thích với từng nhịp đơn mà chỉ tạo được kích thích khi có nhóm kích thích. Phần này chỉ đề cập đến điện kích thích. 3. Tác dụng sinh lý của điện kích thích : – Tăng tần hoàn – Giảm đau – Điện dẫn thuốc ( dưới tính năng của dòng điện, hoàn toàn có thể dẫn một số ít thuốc vào khung hình quada ). – Kích thích cơ và thần kinh – Tác dụng lên cơ quan nội tạng ( trực tiếp hay qua phản xạ ). 3. Chỉ định điều trị – Đau những loại : đau cấp và mạn tính trong những bệnh cơ-xương-khớp, thần kinh, đau sauphẫu thuật – Co thắt cơ, teo cơ. – Rối loạn vận mạch như suy tĩnh mạch, rối loạn mạch thần kinh. 4. Chống chỉ định – Viêm tắc tĩnh mạch. – Loạn nhịp tim, đang đặt máy tạo nhịp tim. – U những loại. – Chảy máu hoặc có rủi ro tiềm ẩn chảy máu. – Gãy xương tiến trình sớm – Phụ nữ đang mang thai. IV. ÁNH SÁNG TRỊ LIỆUÁnh sáng là một loại xê dịch sóng điện từ, có nguồn gốc tự nhiên như ánh sángmặt trời hoặc có nguồn gốc tự tạo. 1 Tia hồng ngoại : Là ánh sáng có bước sóng từ 760 – 3000 nm, mắt người không nhìn thấy. Có nguồn gốc16tự nhiên ( ánh sáng mặt trời ) hoặc tự tạo. Tác dụng sinh lý, chỉ định, chống chỉ định như ở phần nhiệt nóng. 2. Tia tử ngoại ( tia cực tím ) : Có nguồn gốc tự nhiên hoặc tự tạo. Bước sóng từ 200 – 400 nm ( 1 nm = 10-9 m, mắtngười không nhìn thấy ). 2.1. Tác dụng sinh lý : – Diệt khuẩn. – Giãn mạch, làm đỏ da, tạo nhiễm sắc ở da, tăng tạo vitamin D, tăng chuyển hóa canxi. 2.2. Chỉ định điều trị : – Các vết thương, vết loét lâu lành, nhiễm khuẩn. – Các bệnh về da nhưnấm da, chàm, vẩy nến, viêm lỗ chân lông … ). – Các rối loạn Ca / P. 2.3. Chống chỉ định và thân trọng : – Lao phổi tiến triển, – Bệnh tim nặng. – Suy gan, thận. – Rối loạn cảm xúc. – Đái tháo đường nặng. – Người quá mẫn cảm với ánh sáng. – Phải đeo kính bảo vệ mắt cho bệnh nhân và thầy thuốc khi thực thi điều trị. 3. Tia LaserLaser là một loại ánh sáng đặc biệt quan trọng, được sử dụng trong nhiều nghành khác nhau. Trong chuyên ngành vật lý trị liệu, người ta sử dụng laser nguồn năng lượng thấp được chế tạobởi khí helium-nion ( Laser He-Ne ), laser bán dẫn … 3.1. Tác dụng sinh học : – Kích thích lành những vết thương. – Tăng thực bào và năng lực diệt khuẩn. – Giảm phù nề. – Giảm đau. 3.2. Chỉ định điều trị : – Điều trị loét, bỏng, đụng giập ứng dụng. – Đau đầu, đau vai gáy, đau xương khớp, – Các gãy xương chậm liền. 3.3. Chống chỉ định : – Có thai 3 tháng đầu, ung thư, người nhạy cảm với ánh sáng. – Người bệnh tim nặng ; người đang đặt máy tạo nhịp. – Không được chiếu trực tiếp vào mắt, V. THỦY TRỊ LIỆULà chiêu thức sử dụng nước điều trị trải qua việc tác động ảnh hưởng lên mặt phẳng ngoài cơthể. Nước là mội trường thuận tiện để trao đổi nhiệt lượng với khung hình, để tạo sức ép và sựkích thích cơ học trên mặt phẳng da và để triển khai sự đề kháng hay trợ giúp so với những cửđộng dữ thế chủ động. 1. Tác dụng sinh lý : công dụng sinh lý của thủy trị liệu nhờ tính năng đặc trưng của nước : sứcđẩy, áp lực đè nén, khối lượng riêng, tính linh động, nhiệt độ, hóa chất và công dụng của nhiệt17nóng và nhiệt lạnh nói chung giống như những công dụng chung của 2 loại nhiệt này. 2. Chỉ định, chống chỉ định : như những chỉ định và chống chỉ đinh chung của nhiệt nóng trịliệu và nhiệt lạnh trị liệu. 3. Các hình thức sử dụng : có nhiều hình thức sử dụng, ở đây chỉ nêu 1 số ít phươngthức thường được sử dung tại Nước Ta. 3.1. Ngâm nước nóng body toàn thân : Tùy theo nhiệt độ, đặc thù của nước và thời hạn ngâm để có những hiệu quả khácnhau. Về đặc thù, nước khoáng có tính năng kích thích mạnh hơn và gây đổ mồ hôinhanh hơn nước thường. 3.1.1. Tác dụng sinh lý : + Tăng tuần hoàn ngoại biên, tăng nhịp tim, tăng thân nhiệt, tăng chuyển hóa và đổ mồhôi. + Thư giãn cơ, giảm co rút, giảm đau. + Huyết áp khởi đầu tăng rồi hạ, nhịp thở nhanh, nông. 3.1.2. Kỹ thuật : làm cho nhiệt độ trong bồn ngâm đến 30C, là nhiệt độ tạo giãn cơ tối đa. Có thể phối hợp xoa bóp dưới nước và tập hoạt động dưới nước. 3.1.3. Chỉ định : đau khớp, viêm dây thần kinh, những chứng đau của hệ tiêu hóa và tiết niệu. 3.1.4. Chống chỉ định : bệnh nặng, cao huyết áp, xơ cứng động mạch, bướu giáp nặng, động kinh, bệnh van tim, khuynh hướng chảy máu, rối loạn cảm xúc nóng lạnh. 3.2. Ngâm từng phầnĐược vận dụng cho bệnh nhân không có năng lực chịu đựng ngâm body toàn thân hoặc chỉcó nhu yếu điều trị cục bộ. Vùng điều trị hoàn toàn có thể là chân, tay3. 2.1. Tác dụng sinh lý : tạo xung huyết da và tăng tuần hoàn cục bộ, tạo thư giãn giải trí cơ, giảmco thắt cơ, giảm đau. 3.2.2. Kỹ thuật điều trị : ngâm phần cần điều trị vào nước thường, sau đó đổ thêm nướcnóng vào để đạt đến nhiệt độ 43C. Thời gian ngâm : 10-30 phút. Sau khi ngâm, phần điềutrị cần được lau khô. 3.2.3. Chỉ định : Đau cơ, xương, khớp, thần kinh, chẹo chân tiến trình bán cấp và mạn, rốilọan đinh dưỡng, tuần hoàn sau bất động ( do bó bột ). 3.3. Ngâm nước nóng-lạnhLà cách ngâm một phần khung hình trong nước nóng và lạnh xen kẽ. 3.3.1. Tác dụng : tạo co thắt và thư giãn giải trí những mạch máu, làm ngày càng tăng nhịp độ tuần hoàn tớiphần chi thể. Sự cải tổ tuần hoàn theo cách ngâm này đáng kể hơn và lê dài hơn sovới cách ngâm đơn thuần chỉ với nóng hay lạnh. 3.3.2. Kỹ thuật : 2 thùng nước, thùng nước nóng ( 38-44 C ), thùng nước lạnh ( 16-18 C ). Nhúng nóng 3 phút rồi nhứng lạnh ngay 1 phút. Nhúng luân phiên như vậy 4-5 lần ( tốtnhất là nhứng lần dầu và lần cuối trong nước nóng ). 3.3.3. Chỉ định : rối loạn tuần hoàn ngoại vi do co thắt động mạch, loạn dưỡng do rối loạnthần kinh thực vật, đổ mồ hôi chân tay, đau cơ, co cơ, đau khớp, đau mỏm cụt. 3.3.4. Chống chỉ định : xơ cứng động mạch, hẹp mạch do đái đường, viêm tắc động mạchđầu chi. 3.4. Nước khoáng, bùn trị liệu – Nước khoáng nóng : là nguồn nước ngầm. có nhiều loại nước khoáng tùy thuộc thànhphần nguồn nước ( nhiều CO2, lưu huỳnh ) thích hợp cho từng loại bệnh. Hình thức sử dụng : uống, ngâm, tắm. 18 – Bùn : có nguồn gốc cây cối sinh vật. Có thể dùng để đắp, tắm. – Chỉ định điều trị : tùy đặc thù của từng nguồn nước khoáng hay bùn, hoàn toàn có thể dùng đểđiều trị những bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hóa, cơ xương khớp, thần kinh – Chống chỉ định : u những loại, những bệnh nặng. VI. XOA BÓP TRỊ LIỆUXoa bóp là một từ dùng để chỉ một nhóm kỷ thuật ích thích hệ thần kinh tổ chức triển khai dướida, những mô của khung hình một cách có khoa học và mạng lưới hệ thống nhằm mục đích mục tiêu điều trị. 1. Tác dụng sinh lý – Cơ chế cơ học tại chỗ, tăng cường lưu thông máu, giảm đau, giảm phù nề ; chống dính ; làm mềm sẹo. – Hiệu quả phản xạ tạo cảm xúc thú vị, thư giãn giải trí, an thần, làm dịu đau. 2. Chỉ định – Giảm đau, thư giãn giải trí cơ – Chuẩn bị cho tập hoạt động. – Làm dịu về mặt tâm ý, giảm stress thần kinhXoa bóp không làm giảm béo, không biến hóa khối lượng, không tăng sức mạnh cơ. Hiệu quả quan trọng của xoa bóp là làm dịu. 3. Hình thức sử dụngCó thể xoa bóp bằng tay hoặc sử dụng thiết bị cơ học ( thiết bị rung, xoa bóp thay đổiáp lực, xoa bóp dưới vòi phun. VII. VẬN ĐỘNG TRỊ LIỆU1. Định nghĩaVận động trị liệu là thực thi những hoạt động, những tư thế hoặc những hoạt động giải trí thể lực củacơ thể một cách có mạng lưới hệ thống và kế hoạch nhằm mục đích mục tiêu phòng bệnh, chữa bệnh và phụchồi chức năng. 2. Mục đích – Giảm thiểu hoặc phòng ngừa khiếm khuyết. – Cải thiện, phục hồi hoặc tăng cường chức năng sức khỏe thể chất. – Phòng ngừa hoặc giảm thiểu những yếu tố rủi ro tiềm ẩn tương quan đến sức khỏe thể chất. – Tăng cường sức khỏe thể chất, tăng năng lực thích ứng của khung hình và sự tự do về tinh thầnMỗi người bệnh có một chương trình tập luyện riêng, tương thích với nhu yếu của ngườiđó và được lập bởi kỹ thuật viên vật lý trị liệu. 3. Các loại bài tập thường vận dụng : Trong phục hồi chức năng, người ta thường vận dụng những bài tập hoạt động sau : tậptheo tầm hoạt động khớp, tập kháng trở, tập aerobic, kéo dãn, hoạt động khớp ngoại biên vàtập trong nước, tập hoạt động chức năng và những bài tập cho những chuyên khoa ( sản phụkhoa, lồng ngực, tim mạch ). 3.1. Tập theo tầm vận độngSự hoạt động trọn vẹn của một khớp gọi là tầm hoạt động. Khi một khớp cử động, mọi cấu trúc tương quan đến nó ( cơ, diện khớp, giây chằng, bao khớp, cân, mạch máu, thầnkinh ) đều tham gia vào quy trình này. Để miêu tả tầm hoạt động khớp, người ta dùng cácthuật ngữ gập, duỗi, dạng, khép, xoay. 3.1.1. Tập hoạt động thụ động – Định nghĩa : là hoạt động được triển khai bởi người điều trị, hoặc dụng cụ cơ học. Trong19bài tập này, không có sự co cơ dữ thế chủ động của phần chi thể được tập. – Mục đích : Mục đích tiên phong của tập hoạt động thụ động là làm giảm những biến chứng cóthể xẩy ra do bất động. 3.1.2. Tập hoạt động dữ thế chủ động có trợ giúp – Định nghĩa : tập hoạt động dữ thế chủ động có trợ giúp là bài tập hoạt động do chính người bệnhtự triển khai ( tự co cơ ), nhưng để triển khai động tác một cách hoàn hảo cần phải có sựtrợ giúp của một lực bên ngoài ( bằng tay hoặc dụng cụ cơ học ). – Mục đích : Như của tập hoạt động thụ động. – Chỉ định : Khi cơ bắp còn yếu ( cơ không thắng được trọng tải ). 3.1.3. Tập hoạt động dữ thế chủ động – Định nghĩa : Tập hoạt động dữ thế chủ động là hoạt động được thực thi bởi chính người bệnhtự co cơ không cần sự trợ giúp. – Mục đích của tập hoạt động dữ thế chủ động : Như những mục tiêu của tập hoạt động thụ động. 3.2. Tập có kháng trở3. 2.1. Định nghĩa : Tập có kháng trở là bất kể loại bài tập dữ thế chủ động nào trong đó có sự co cơ động haytĩnh bị kháng lại bởi một lực từ bên ngoài. Lực kháng bên ngoài hoàn toàn có thể bằng tay hoặcbằng máy. 3.2.2. Chỉ định : khi cơ đã đạt được bậc 4 hoặc bậc 5.3.2. 3. Mục đích : – Tăng sức mạnh của cơ ( sức mạnh cơ là lực tạo ra kho co cơ ) – Tăng sức bền của cơ ( sực bền là năng lực triển khai bài tập cường độ thấp trong mộtthời gian lê dài ). 3.2.4. Chống chỉ định và thân trọng : – Chống chỉ định : khi có viêm nhiễm, đau nhiều. – Thận trọng : người bệnh có những bệnh tim mạch, cao tuổi, quá căng thẳng mệt mỏi, loãng xương3. 3 Tập kéo giãn3. 3.1. Định nghĩa : Tập kéo giãn là động tác tập dùng cử động cưỡng bức do người tập hay dụng cụ thựchiện. 3.3.2. Chỉ định : Tầm hoạt động giải trí của khớp bị số lượng giới hạn do hậu quả của co rút, dính khớp vàhình thành tổ chức triển khai sẹo, dẫn đến những cơ, tổ chức triển khai link và da bị ngắn lại so với bìnhthường. 3.3.3. Mục đích : Tái thiết lập lại tầm hoạt động giải trí của khớp và hoạt động của những tổ chứcmềm quanh khớp. 4.4. Các bài tập hoạt động trị liệu chức năng : – Tập trên đệm : đổi khác tư thế, thang bằng ngồi, chuyển dời – Tập với thanh song song : tập tăng sức chịu đựng khi đúng, tập cân đối, tập đi – Tập cân đối với nạng : tập thăng bằng bên, trước sau, – Tập chuyển dời : tập dáng đi, chuyển dời với xe lăn, – Hoạt động trị liệu : tập phục hồi và tăng trưởng trở lại tư duy, sự khôn khéo của bàn tay vàtập cho người bệnh sử dụng lại những dụng cụ tay chân giả, dụng cụ chỉnh hình, hoặc dụngcụ trợ giúp nhằm mục đích đạt sự độc lập tối đa của người bệnh. 20B ÀI 4 : PHỤC HỒI CHỨC NĂNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNGMục tiêu học tậpSau khi học xong bài này, học viên có năng lực : 1. Trình bày được định nghĩa, tiềm năng của phục hồi chức năng dựa vào hội đồng. 2. Trình bày và lý giải được những tiến trình tiến hành chương trình phục hồi chức năngdựa vào hội đồng. 3. Trình bày được nghĩa vụ và trách nhiệm của từng cấp trong chương trình phục hồi chức năng dựavào hội đồng. 4. Trình bày được những điều kiện kèm theo cơ bản để tiến hành chương trình phục hồi chức năngdựa vào hội đồng và tiêu chuẩn hội nhập xã hội cho người khuyết tật. Nội dungI. ĐỊNH NGHĨACộng đồng : là những người sống và hoạt động và sinh hoạt với nhau tại một địa phương, đơn vịhành chính nhỏ nhất ( cùng chia sẽ về phong tục, tập quán, dịch vụ ). Phục hồi chức năng dựa vào hội đồng ( PHCNDVCĐ ) là một giải pháp chiếnlược nằm trong sự tăng trưởng của hội đồng nhằm mục đích bảo vệ cho tổng thể những người tàn tậtđược PHCN, được bình đẳng về mọi thời cơ và hội nhập xã hội. PHCNDVCĐ được tiến hành với sự phối hợp chung của chính bản thân người tàntật, mái ấm gia đình họ và hội đồng bẵng những dịch vụ y tế, giáo dục hướng nghiệp và xã hộithích họ. Thực chất của PHCNDVCĐ là chuyển giao kỹ năng và kiến thức về tàn tật và phòng ngừa tàntật, kỹ năng và kiến thức phục hồi và thái độ tích cực đến với người tàn tật, mái ấm gia đình họ và cộng đồngvà biến công tác làm việc PHCN thành công việc của hội đồng đồng thời trải qua những tổ chức triển khai ởcộng đồng để xã hội hóa và dân chủ hóa công tác làm việc phòng ngừa tàn tật và PHCN.II. MỤC TIÊU CỦA PHCNDVCĐ1 ) Làm đổi khác nhận thức của xã hội để xã hội đồng ý người khuyết tật là thành viênbình đẵng trong hội đồng. 2 ) Làm cho hội đồng nhận thức đúng vai trò của mình trong PHCNDVCĐ và biếnPHCN thành một trách nhiệm, một bộ phận của quy trình tăng trưởng xã hội. 3 ) Lôi kéo sự tham gia của chính người khuyết tật và mái ấm gia đình họ vào quy trình PHCN. 4 ) Lôi kéo sự hợp tác đa ngành, sự trợ giúp của tuyến trên. 5 ) Sử dụng những kỹ thuật thích hợp để biến kỹ năng và kiến thức và kiến thức và kỹ năng PHCN vận dụng ngay tạicộng đồng. III. TẠI SAO CẦN TRIỂN KHAI PHCNDVCĐ – Do sự phân bổ không hài hòa và hợp lý giữa số lượng người khuyết tật hoàn toàn có thể phục hồi và cán bộPHCN ở những tuyến ( Hình 1 ). Như vậy, giải pháp duy nhất để cân đối sự mất cân đối vềcán bộ PH và cung ứng được nhu yếu của đại đa số người khuyết tật là tăng trưởng PHCN tạituyến cơ sở ( tôn, bản, xã, phường ). – PHCNDVCĐ phân phối được nhu yếu phục hồi của phần đông người khuyết tật. 21 – PHCN là một quy trình lâu dài hơn, nên cách tốt nhất là được triển khai ngay tại hội đồng, nơi người khuyết tật sinh sống. Phân bố người tàn tật hoàn toàn có thể Sự phân bổ cán bộ PHCNphục hồi tại những tuyến tại những tuyến1-5 % Trung ương 79-85 % 5-10 % Tỉnh, thành 5-10 % 5-10 % Huyện 1 % ( 0 % ) 75-80 % Xã 0 % Hình 1. So sánh phân bổ nhu yếu PHCN và số lượng cán bộ PHCN ở những tuyếnIV. CÁC DẠNG TÀN TẬT VÀ NHU CẦU CẦN PHỤC HỒI1. Các dạng tàn tậtĐể dễ nhận ra, dễ thực nhiện cũng như để tạo điều kiện kèm theo thuận tiện cho ngườikhuyết tật đồng ý thực trạng khuyết tật của mình và tăng cường năng lực hợp tác củahọ, người ta phân tàn tật thành những dạng như sau : – Người có khó khăn vất vả về hoạt động – Người có khó khăn vất vả về học – Người có khó khăn vất vả về nhìn – Người có khó khăn vất vả về nghe nói – Người có hành vi lạ lẫm – Người động kinh – Người bị mất cảm xúc. 2 Nhu cầu phục hồiCăn cứ vào nhu yếu thiết yếu về chức năng và xã hội nhằm mục đích bảo vệ sự độc lậptrong hoạt động và sinh hoạt và trong đời sống của người khuyết tật, TCYTTG đã đưa ra 23 nhu cầuhoạt động cơ bản trong những nghành nghề dịch vụ tự chăm nom, tiếp xúc, chuyển dời và sự tham gia cáchoạt động mái ấm gia đình và xã hội. Sự thực hiện những hoạt động giải trí thiết yếu này được nhìn nhận ở 3 mức độ : * Mức 0 : Người khuyết tật thực nhiện được những hoạt động giải trí mà không cần trợ giúp. * Mức 1 : Người khuyết tật thực nhiện được một phần. * Mức 2 : Người khuyết tật không thực nhiện được, trọn vẹn dự vào người khác. Nếu có bất kể hoạt động giải trí nào trong 23 hoạt động giải trí cơ bản được nhìn nhận ởmức độ 1 và 2 thì người đó là người có nhu yếu cần phục hồi. 22V. TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH PHCNDVCĐ1. Các tiến trình tiến hành chương trình PHCNDVCĐ1. 1. Giai đoạn 1 – Chuẩn bị và tiến hành chương trình : Gồm những việc làm sau : – Tuyến tỉnh và huyện : + Thành lập ban điều hành quản lý chương trình cấp tỉnh / huyện ( lồng ghép vào ban điều hànhchương trình CSSKBĐ. + Tổ chức Hội thảo cho những cán bộ chỉ huy những ban ngành cấp tỉnh / huyện và tập huấn ởcấp tỉnh / huyện kỹ thuật về PHCNDVCĐ cho những bác sỹ, KTV PHCN, y sỹ và giáo viên. – Tuyến cơ sở ( xã, phường, thôn, bản ) : + Thành lập ban quản lý chương trình cấp cơ sở ( lồng ghép vào ban quản lý chươngtrình CSSKBĐ. + Tổ chức hội thảo chiến lược cho cán bộ chỉ huy những ban ngành của xã và tập huấn kỹ thuật PHCNtheo cuốn ” Huấn luyện người tàn tật tại hội đồng ” cho nhân viên cấp dưới PHCN hội đồng ( nhânviên CSSKBĐ ) gồm có y tế đội, giáo viên, chữ thập đỏ + Nhân viên PHCN hội đồng mở màn tiến hành những hoạt động giải trí PHCNDVCĐ ( sau khi đãđược tập huấn ). + Y / Bác sỹ xã tích lũy và theo dõi, quản trị chương trình cùng với sự tương hỗ chuyên môncủa KTV PHCN huyện và tĩnh. 1.2. Giai đoạn 2 – Duy trì chương trình : – Tiếp tục duy trì một số ít hoạt động giải trí trong quá trình 1 và tiến hành thêm những hoạt động giải trí sau : – Phát triển mạng lưới hệ thống hồ sơ theo dõi, báo cáo giải trình về quy trình tiến độ thực thi chương trình ( theo những mẫu báo cáo giải trình do ban điều hành quản lý chương trình TW đề ra ). Thường xuyên đánh giálại và đặt kế hoạch bổ trợ. – Củng cố và tăng cấp những cơ sở tham vấn trình độ như trạm y tế, khoa PHCN bệnhviện huyện, tỉnh. – Tổ chức tập huấn và nâng cao trình độ trình độ, kỹ thuật cho những cán bộ y tế cộngđồng. – Tạo thuận tiện và sắp xếp cho người khuyết tật hội nhập xã hội, có chất lượng cuộcsống tốt hơn ( trẻ nhỏ được đi học, người lớn có việc làm, thu nhập không thay đổi ) 2. Phân cấp nghĩa vụ và trách nhiệm trong chương trình PHCNDVCĐ2. 1. Trách nhiệm của thành viên mái ấm gia đình và người khuyết tật : – Báo cáo thực trạng khuyết tật cho nhân viên cấp dưới PHCNDVCĐ – Sử dụng tài liệu ” Huấn luyện người tàn tật tại hội đồng “. – Thay đổi điều kiện kèm theo trong nhà sao cho thích nghi với người khuyết tật. – Tăng cường sự đồng ý người tàn tật trong mái ấm gia đình. 2.2. Trách nhiệm của nhân viên cấp dưới PHCNDVCĐ ( nhân viên cấp dưới CSSKBĐ ) : – Phát hiện người khuyết tật. – Đánh giá nhu yếu cần phục hồi. – Ghi tác dụng tìm hiểu vào phiếu. – Nộp hàng loạt phiếu tìm hiểu lên trạm y tế. – Lập kế hoạch phục hồi cho người khuyết tật do mình đảm nhiệm. 23 – Chọn tài liệu huấn luyện và đào tạo tương thích cho từng người khuyết tật. – Chọn thành viên mái ấm gia đình thích hợp để đào tạo và giảng dạy kỹ năng và kiến thức phục hồi. – Hướng dẫn thành viên mái ấm gia đình cách sử dụng tài liệu và thực thi những bài tập phục hồi. – Theo dõi, động viên, khuyến khích người khuyết tật và thành viên mái ấm gia đình. – Kiểm tra, nhìn nhận theo định kỳ, bổ trợ nâng cáo kỹ năng và kiến thức cho người đào tạo và giảng dạy. – Liên hệ chuyển người khuyết tật nặng lên tuyến trên. 2.3. Trách nhiệm của y, bác sỹ trạm y tế xã : – Xử lý và tổng hợp hiệu quả tìm hiểu theo mẫu ” Mô hình tàn tật “. – Phân công khu vực PHCN cho những nhân viên cấp dưới PHCNCĐ ( lên map PHCN ). – Cung cấp phiếu nhìn nhận hiệu quả phục hồi của người khuyết tật tại hội đồng cho nhânviên PHCNCĐ. – Theo dõi ghi chép kết qủa phục hồi của nhân viên cấp dưới PHCNCĐ vào phiếu đánh gía. – Chuẩn bị nội dung và tổ chức triển khai họp giao ban hàng tháng với những nhân viên cấp dưới PHCNCĐ. – Lưu giữ mọi hồ sơ tương quan đến người khuyết tật tại địa phương. – Liên hệ với tuyến trên để chuyển người khuyết tật hoặc tương hỗ về trình độ cho nhânviên PHCNCĐ khi cần. 2.4. Trách nhiệm của y / bác sỹ, KTV PH tuyến huyện, tỉnh và phòng khám đa khoa khuvực : – Tham gia quản trị và điều hành quản lý chương trình PHCNDVCĐ tại địa phương. Giúp cácnhân viên PHCNCĐ điều trị và PHCN cho người khuyết tật. – Trực tiếp huấn luyện và đào tạo và kiểm tra về trình độ kỹ thuật PHCN cho cán bộ địa phương. – Tổ chức những lớp đào tạo và giảng dạy, giúp tuyến dưới những kỹ thuật mà họ chưa nắm được. – Gửi những người khuyết tật cần phải điều trị ở tuyến cao hơn lên tuyến trên. – Thảo luận và đề xuất kiến nghị với mái ấm gia đình, hội đồng tạo công ăn việc làm thích hợp cho ngườilớn khuyết tật, học tập cho trẻ khuyết tật đến tuổi đi học. 2.5. Trách nhiệm của ban điều hành quản lý chương trình PHCNDVCĐ : PHCN là trách nhiệm của toàn xã hội. Đơn vị trực tiếp quản trị là Ban điều hànhchương trình PHCNDVCĐ. Ban này được lồng ghép trong ban quản lý CSSKBĐ dướisự chỉ huy của Ủy Ban Nhân Dân những cấp. Trách nhiệm của ban quản lý và điều hành gồm có : – Điều hành chương trình PHCN tại địa phương. – Lôi kéo những ngành, những cấp và toàn thể hội đồng cùng tham gia vào chương trìnhPHCNDVCĐ. Tạo mọi điều kiện kèm theo để người khuyết tật được tham gia hoạt động giải trí xã hội : trẻem được đi học, người lớn có công ăn việc làm. – Mở những lớp giảng dạy cho cán bộ y tế hội đồng hiểu biết những giải pháp huấn luyệnvà kỹ thuật phục hồi. – Định kỳ tổ chức triển khai hội nghị rút kinh nghiệm tay nghề và đề ra phương hướng kế hoạch và nhiệmvụ trong từng quy trình tiến độ đơn cử. – Ngành y tế chịu nghĩa vụ và trách nhiệm dữ thế chủ động tham mưu cho chính quyền sở tại chỉ huy phát triểnchương trình. 3. Hệ thống tổ chức triển khai PHCNDVCĐ lồng ghép trong công tác làm việc CSSKBĐ24Cơ sở quản trị Tuyến Nhân lực thực hiệnGia đình – Người khuyết tật – Người đào tạo và giảng dạy, – Ủy Ban Nhân Dân / BĐH xã Cộng đồng – NVCSSKBĐ hội đồng – Trạm y tế – Cán bộ y tế – Trường đại trà phổ thông – Hội viên Hội chữ thập đỏ – Ủy Ban Nhân Dân / BĐH huyện Huyện – BS, KTV PHCN – TT y tế huyện – Ủy Ban Nhân Dân / BĐH tỉnh Tỉnh – BS, KTV PHCN – Sở Y tếBan điều hành quản lý TW TW – BS, nhân viên Bô Y Tế – Viện và Bệnh viện TWVI. CÁC ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN ĐỂ TRIỂN KHAI VÀ DUY TRÌ CHƯƠNG TRÌNH – Phải có sự ủng hộ của chỉ huy địa phương. – Phát triển nhân lực thực thi chương trình đủ và bảo vệ chất lượng. – Xây dựng mạng lưới hệ thống tham vấn trình độ vũng mạnh ở những tuyến ( tăng cấp trạm y tếxã, kiến thiết xây dựng và cung ứng trang thiết bị tối thiểu đồng thời huấn luyện và đào tạo nhân lực cho khoaPHCN tuyến huyện, tỉnh, trang thiết bị tân tiến và tăng trưởng chuyên khoa sâu ở những bệnhviện / viện PHCN tuyến TW, thiết kế xây dựng bộ môn PHCN ở những trường ĐH, cao đẳng vàtrung học y tế. – Đảm bảo đủ điều kiện kèm theo vật chất tiến hành chương trình như tài liệu huấn luyện và đào tạo, nguyênvật liệu làm dụng cụ trợ giúp như tre, gỗ – Đảm bảo kinh phí đầu tư triển khai chương trình. VII. CÁC TIÊU CHUẨN HỘI NHẬP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT – Người khuyết tật được sống bình đẵng, không bị cách biệt trong mái ấm gia đình và ngoài xã hội – Người khuyết tật có nhà ở, hoàn toàn có thể tự chuyển dời trong nhà, quanh nhà, trong làng xóm. – Trẻ khuyết tật được bú sữa mẹ, người lớn được ẩm thực ăn uống như người thông thường tronggia đình. – Người khuyết tật được hướng nghiệp hoặc hướng dẫn tham gia lao động sản xuất. – Người khuyết tật được đi dạo với những người khác và tham gia những hoạt động giải trí sinhhoạt của hội đồng. – Người khuyết tật được hưởng những dịch vụ về chăm nom sức khoẻ, đi dạo giả trí, hoạtđộng thể thaoKẾT LUẬNPHCNDVCĐ là một thành tựu mới đã được TCYTTG và nhiều tổ chức triển khai liên quancủa Liên Hiệp Quốc thử nghiệm từ năm 1979 đến 1982 xác lập là thích hợp, có hiệu quảvà hoàn toàn có thể triển khai được ở những nước đang tăng trưởng. Hiện nay đã có gần 60 nước thựchiện chương trình này. Ở Nước Ta, chương trình PHCNDVCĐ được tiến hành từ năm1978 tại tỉnh Tiền Giang và đến nay đã được tiến hành ở rất nhiều địa phương trên cảnước và đã thu được những tác dụng tốt. 25

TIN LIÊN QUAN

Phục Hồi Chức Năng Sau Phẫu Thuật Tái Tạo Dây Chằng Chéo Trước (DCCT)

kienthuc

1 số bài thuốc phòng và hỗ trợ điều trị u xơ tử cung

kienthuc

Cách chữa thoái hóa cột sống bằng vị thuốc dân gian | BvNTP

kienthuc